Nhấn mạnh nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài vào dự thảo Luật lần này, đại biểu Trần Thị Hồng An đề xuất, cần chính thức luật hóa “Người Việt Nam ở nước ngoài” là nhóm đối tượng đặc thù. Theo đó, dự thảo Luật cần quy định rõ đây là nhóm đối tượng được ưu tiên, hỗ trợ và có cơ chế phổ biến pháp luật riêng biệt.
“Điều này giúp tạo hành lang pháp lý đồng bộ để Nhà nước bố trí ngân sách, nguồn lực triển khai hàng năm một cách bài bản, không để bà con bị bỏ lại phía sau trong tiếp cận pháp luật; bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin pháp lý cho đồng bào ta ở nước ngoài giúp đồng bào ta không chỉ hiểu biết pháp luật mà còn là “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam”; tăng cường vị thế, trách nhiệm, uy tín ở nước sở tại, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao sức mạnh mềm và uy tín quốc gia”, nữ đại biểu Quốc hội bày tỏ ý kiến.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung trách nhiệm của Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài vào Luật. Theo đại biểu, các cơ quan này phải là đầu mối kiến tạo, phối hợp với mạng lưới hội đoàn, chuyên gia, trí thức kiều bào tại các nước để tổ chức triển khai các hoạt động tư vấn pháp luật tại các nước với những nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với các đối tượng.
Luật cần quy định rõ việc xây dựng Cổng thông tin pháp lý quốc gia số hóa cho kiều bào với nội dung Luật phải được chuyển tải cần được đa dạng hóa như: infographic, video ngắn, trợ lý ảo trí tuệ nhân tạo để người Việt Nam tại nước ngoài dễ dàng tra cứu từ xa. “Đúng như Chủ tịch Quốc hội đã lưu ý, phải hướng tới sự tương tác đa chiều, có cơ chế tiếp nhận phản hồi, giải đáp vướng mắc trực tuyến”, đại biểu nhấn mạnh.
Nêu ý kiến về xác định đối tượng đặc thù quy định tại Điều 16 dự thảo Luật, theo đại biểu Hoàng Quốc Khánh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu), Điều 16 dự thảo Luật xác định 7 nhóm đối tượng đặc thù được hưởng chính sách ưu tiên về nguồn lực, được thiết kế nội dung, hình thức phổ biến giáo dục pháp luật riêng và áp dụng các chương trình đề án chuyên biệt theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.
Đại biểu bày tỏ quan điểm, về nguyên tắc, khi đã xác định đối tượng đặc thù, đó là đối tượng có đặc điểm khác biệt rõ ràng như bị hạn chế đáng kể về khả năng tiếp cận pháp luật do rào cản về địa lý, ngôn ngữ, thể chất hoặc thuộc nhóm có nguy cơ cao cần sự can thiệp hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước.
Từ đó, theo đại biểu, quy định như dự thảo các nhóm đối tượng tại Điều 16 còn khá rộng và chưa thật sự rõ ràng về ranh giới phân loại, dễ dẫn đến chồng chéo với pháp luật chuyên ngành. “Theo số liệu thống kê sơ bộ, đối tượng đặc thù quy định tại Điều 16 chiếm khoảng 25 đến 30% dân số cả nước. Nếu xác định quá rộng thì khái niệm đặc thù sẽ bị mở rộng và chính sách đặc thù sẽ thành chính sách phổ biến và đại trà”, đại biểu nêu rõ.
Đại biểu cho rằng, quy định như vậy sẽ dẫn đến tình trạng nguồn lực Nhà nước bị phân tán trong khi những nhóm thực chất yếu thế có rào cản nghiêm trọng trong tiếp cận pháp luật lại không được tập trung nguồn lực và tương xứng.
Đại biểu Hoàng Quốc Khánh cho rằng, đối với người vi phạm pháp luật và người đang trong quá trình xử lý thi hành các biện pháp theo quy định của pháp luật thì Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thi hành án hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên đã có quy định về giáo dục cải tạo, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng và thực hiện các biện pháp tương ứng. Việc quy định nhóm này là đối tượng đặc thù cũng cần cân nhắc để tránh chồng chéo về trách nhiệm, thẩm quyền và nguồn kinh phí.
Do đó, đại biểu Hoàng Quốc Khánh đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát, thu gọn và chuẩn hóa Điều 16 dự thảo Luật theo hướng chỉ xác định là đối tượng đặc thù những nhóm thực sự có rào cản đáng kể tiếp cận pháp luật về thể chất, địa lý, ngôn ngữ hoặc hạn chế quyền theo bản án quyết định của cơ quan có thẩm quyền.