Lấy chất lượng phục vụ và hiệu quả thực tế làm mục tiêu
Kế hoạch đặt yêu cầu phải bám sát 5 định hướng đổi mới tư duy phát triển kết cấu hạ tầng theo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch và đầu tư; lấy chất lượng phục vụ và hiệu quả thực tế làm mục tiêu; kết hợp hài hòa hạ tầng vật chất, hạ tầng số và hạ tầng tự nhiên; coi phát triển kết cấu hạ tầng là một ngành kinh tế chiến lược; phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt của Nhà nước trong huy động nguồn lực. Phát triển kết cấu hạ tầng gắn với hiệu quả sử dụng đất; quỹ đất, không gian phát triển phải được dự trữ, bảo vệ với tầm nhìn ít nhất 50 năm.
Việc triển khai phải gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch tỉnh; các chương trình, kế hoạch đầu tư công và các chiến lược, chương trình quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh.
Các bộ, cơ quan, địa phương phải rà soát kỹ điều kiện thực hiện trước khi quyết định đầu tư; không để xảy ra tình trạng dự án được quyết định khi chưa bảo đảm đầy đủ điều kiện về quy hoạch, đất đai, mặt bằng, nguồn vốn, vật liệu, công nghệ, nhân lực và hạ tầng kết nối; quản lý dự án và tài sản hạ tầng theo toàn bộ vòng đời...
Kế hoạch đề ra 6 nhiệm vụ cụ thể: Đổi mới công tác quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm đồng bộ, liên thông, tầm nhìn dài hạn; Đổi mới căn bản quản lý đầu tư và quản trị tài sản kết cấu hạ tầng; Tập trung nguồn lực cho phát triển các hạ tầng chiến lược;
Đổi mới cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực; Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực, năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình; Các nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng đến năm 2045.
Kiến tạo các công trình biểu trưng cho tầm vóc quốc gia
Về nhiệm vụ tập trung nguồn lực cho phát triển các hạ tầng chiến lược, Kế hoạch sẽ triển khai đầu tư hoàn thiện hạ tầng các hành lang giao thông, logistics trục Bắc - Nam và Đông - Tây; ưu tiên kết nối đường bộ cao tốc, đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị, đường thủy, cảng biển, cảng hàng không, trung tâm logistics, khu công nghiệp và đô thị, khu kinh tế, hành lang kinh tế và các cửa khẩu quốc tế; gắn đầu tư hạ tầng với chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp trong nước.
Nâng cao khả năng chống chịu của hạ tầng trước biến đổi khí hậu, thiên tai và bảo đảm an ninh nguồn nước; ưu tiên đồng bằng sông Cửu Long, đô thị ven biển, trung tâm công nghiệp, cụm cảng lớn và các khu vực có rủi ro cao; bảo đảm an ninh, quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững nguồn nước.
Rà soát và có chương trình xử lý các điểm nghẽn lớn về hạ tầng đô thị và hạ tầng xã hội, nhất là tại các đô thị lớn, vùng động lực, khu công nghiệp, khu kinh tế và khu vực tập trung đông dân cư...
Về các nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng đến năm 2045, theo kế hoạch sẽ hình thành trục hạ tầng Bắc - Nam và các hành lang Đông - Tây thế hệ mới. Xây dựng lộ trình phát triển trục Bắc - Nam tích hợp đường bộ, đường sắt, năng lượng, cáp quang, logistics, gắn với đô thị và trung tâm công nghiệp - dịch vụ; hình thành các hành lang Đông - Tây kết nối vùng nội địa với cảng biển, cửa khẩu và mạng logistics khu vực.
Hiện đại hóa hệ điều hành hạ tầng quốc gia. Xây dựng mô hình số thống nhất, tiến tới hình thành “bản sao số” đối với các hệ thống giao thông, năng lượng, viễn thông, thủy lợi, đô thị, công nghiệp, dân cư, đất đai và môi trường; các dự án lớn từng bước thực hiện mô phỏng trước đầu tư và giám sát theo thời gian thực khi vận hành.
Kiến tạo các công trình biểu trưng cho tầm vóc quốc gia. Xây dựng tiêu chí lựa chọn và danh mục các công trình hạ tầng có ý nghĩa biểu trưng, tạo dấu ấn phát triển mới; coi năng lực của doanh nghiệp và đội ngũ Việt Nam trong thiết kế, công nghệ, thi công, vận hành, quản trị là một tiêu chí quan trọng khi chuẩn bị và tổ chức thực hiện...