Sáng 9/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản.
Một trong những nội dung được các đại biểu quan tâm là cơ chế kiểm soát đối với những xuất bản phẩm có nội dung đặc thù, nhất là các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia, lịch sử dân tộc, lãnh tụ và những nội dung có tác động đến an ninh văn hóa, tư tưởng.
Kiểm soát chặt, nhưng không để “treo” quyền phát hành
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) tán thành việc tăng cường kiểm soát đối với những xuất bản phẩm thuộc nhóm nội dung đặc thù. Theo đại biểu, đây là những lĩnh vực có tính chất nhạy cảm, cần cơ chế thẩm định, kiểm soát chặt chẽ hơn so với các xuất bản phẩm thông thường.
Tuy nhiên, điều quan trọng là cơ chế kiểm soát phải được luật hóa đủ rõ để vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa tránh phát sinh một khoảng thời gian pháp lý không xác định đối với việc phát hành xuất bản phẩm.
Theo dự thảo, đối với tác phẩm, tài liệu thuộc danh mục do Chính phủ quy định, nhà xuất bản phải gửi đăng ký kế hoạch xuất bản kèm kết quả thẩm định bản thảo được cơ quan chủ quản phê duyệt. Sau khi xuất bản phẩm được nộp lưu chiểu, những sản phẩm thuộc nhóm này chỉ được phát hành sau khi có ý kiến của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cách thiết kế trên về cơ bản tạo thành cơ chế kiểm soát nhiều lớp, phù hợp với yêu cầu bảo đảm an ninh văn hóa, tư tưởng. Tuy nhiên, dự thảo vẫn chưa làm rõ những tiêu chí cơ bản để xác định một đề tài thuộc diện kiểm soát đặc biệt.
Đáng lưu ý hơn, Luật cũng chưa quy định rõ hệ quả pháp lý trong trường hợp cơ quan có trách nhiệm không đưa ra ý kiến trong thời hạn được giao.
Theo nữ đại biểu Quốc hội, đây không chỉ là câu chuyện về thời gian xử lý một thủ tục hành chính. Một xuất bản phẩm đã hoàn tất các quy trình cần thiết nhưng vẫn không thể phát hành nếu chưa có ý kiến của cơ quan quản lý sẽ tác động trực tiếp đến quyền chủ động của nhà xuất bản, quyền của tác giả cũng như các quan hệ hợp đồng liên quan.
“Thời hạn và trách nhiệm trả lời” vì vậy cần được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của cơ chế kiểm soát.
Từ đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị dự thảo Luật quy định ngay các nguyên tắc và nhóm tiêu chí cơ bản để xác định xuất bản phẩm thuộc diện kiểm soát đặc biệt; đồng thời xác lập thời hạn tối đa để cơ quan quản lý đưa ra ý kiến. Trường hợp cần kéo dài thời gian xem xét vì lý do đặc biệt, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do.
“Nếu cần kéo dài trong trường hợp đặc biệt thì phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và chỉ được gia hạn trong giới hạn nhất định. Có như vậy mới vừa bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nội dung nhạy cảm, vừa bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nói.
Theo đại biểu, cách quy định này sẽ tạo ra hai yêu cầu song hành: nội dung nhạy cảm vẫn được kiểm soát chặt, nhưng cơ quan thực hiện kiểm soát cũng phải chịu trách nhiệm rõ ràng về quyết định và thời hạn của mình.
Quản lý bằng tiêu chí, thời hạn và trách nhiệm
Cùng quan tâm đến cơ chế kiểm soát đối với xuất bản phẩm đặc thù, đại biểu Nguyễn Vũ Trung (Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, không nhất thiết phải loại bỏ hoàn toàn cơ chế tiền kiểm đối với những vấn đề đặc biệt quan trọng như chủ quyền quốc gia, bản đồ lãnh thổ, lịch sử dân tộc hay đường lối của Đảng.
Theo đại biểu, vấn đề không nằm ở việc có tiền kiểm hay không, mà là phải xác định rõ giới hạn của cơ chế này.
Cụ thể, cần trả lời được những câu hỏi: Ai xác định danh mục? Tiêu chí nào được sử dụng? Thời hạn xem xét là bao lâu? Cơ quan nào chịu trách nhiệm nếu không trả lời đúng hạn? Khi hết thời hạn mà không có ý kiến thì nhà xuất bản có được phát hành hay không?
Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với tính minh bạch và khả năng thực thi của quy định.
Theo đại biểu, dự thảo cần quy định rõ hơn về nguyên tắc xác định nhóm xuất bản phẩm đặc thù, thẩm quyền yêu cầu thẩm định, thời gian tối đa để xem xét, trách nhiệm của cơ quan thẩm định và cách xử lý khi hết thời hạn.
Cùng với đó, cần tính đến quyền giải trình và quyền đề nghị xem xét lại của nhà xuất bản trong trường hợp có ý kiến không cho phép phát hành hoặc yêu cầu chỉnh sửa nội dung.
Một điểm đáng chú ý trong đề xuất của đại biểu Nguyễn Vũ Trung là thu hẹp phạm vi áp dụng tiền kiểm.
Theo đó, tiền kiểm chỉ nên được áp dụng đối với một danh mục thật sự cần thiết, được xác định trên cơ sở những tiêu chí rủi ro mà Luật phải quy định. Đối với phần lớn xuất bản phẩm, cơ chế quản lý cần chuyển thực chất sang việc nhà xuất bản chịu trách nhiệm, bảo đảm dữ liệu minh bạch, tăng cường lưu chiểu điện tử và tổ chức hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro.
“Nếu gọi là hậu kiểm thì thực sự phải là hậu kiểm. Còn tiền kiểm đối với nhóm đặc biệt thì chính luật phải xác định thật hẹp, thật minh bạch, có thời hạn”, đại biểu Nguyễn Vũ Trung bày tỏ quan điểm.
Những ý kiến tại phiên thảo luận cho thấy điểm cần tiếp tục hoàn thiện trong dự án Luật là thiết kế một cơ chế quản lý phù hợp với từng nhóm xuất bản phẩm.
Với những nội dung đặc biệt nhạy cảm, yêu cầu kiểm soát chặt là cần thiết. Nhưng khi Nhà nước đặt ra một lớp kiểm soát trước khi sản phẩm được phát hành, thì đồng thời phải xác định rõ cơ quan nào thực hiện, dựa trên tiêu chí nào, trong bao lâu và chịu trách nhiệm ra sao.
Đối với các xuất bản phẩm thông thường, việc tăng quyền tự chủ và trách nhiệm của nhà xuất bản, kết hợp với hậu kiểm dựa trên rủi ro, sẽ giúp giảm những khâu kiểm soát không cần thiết và phù hợp hơn với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.