Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2020/NĐ-CP quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non và chuyển sang Bộ Tư pháp để thẩm định.
Kinh phí tăng thêm 550 tỷ đồng/năm
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, toàn quốc hiện có 15.069 trường mầm non, trong đó có 11.863 trường công lập, tỉ lệ 78,7%. Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên là 558.520 người.
Từ năm 2021 đến nay có trên 2.600 cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục được hưởng chính sách hỗ trợ cơ sở vật chất một lần với kinh phí hỗ trợ khoảng 100 tỷ đồng.
Mỗi năm có khoảng 746.000 lượt trẻ em mẫu giáo được hưởng chế độ hỗ trợ ăn trưa với tổng kinh phí khoảng 1.002 tỷ đồng.
Hiện, mức hỗ trợ nấu ăn đối với cơ sở giáo dục mầm non công lập ở vùng khó khăn là 2,4 triệu đồng/định mức/tháng không còn phù hợp với mức lương cơ sở/tối thiểu vùng. Cùng với đó, mức hỗ trợ ăn trưa 160.000 đồng/trẻ/tháng còn thấp so với mặt bằng giá thực phẩm thực tế hiện nay.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng mức hỗ trợ nhân viên nấu ăn từ 2,4 triệu đồng lên 3,9 triệu đồng/1 định mức/tháng và hỗ trợ ăn trưa từ 160.000 đồng lên 360.000 đồng/trẻ/tháng để thống nhất với các quy định khác liên quan.
Ước tính kinh phí để thực hiện việc nâng mức hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo tăng thêm khoảng 550 tỷ đồng/năm.
Góp ý dự thảo luật, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho rằng mức 160.000 đồng/trẻ/tháng đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động tại khoản 2 Điều 8 đã được áp dụng từ năm 2020.
Giá trị hỗ trợ thực tế hiện không còn phù hợp với biến động chi phí sinh hoạt và còn chênh lệch đáng kể so với mức hỗ trợ ăn trưa 360.000 đồng/trẻ/tháng tại Điều 7 của dự thảo. Do đó, đề nghị nghiên cứu điều chỉnh tăng mức hỗ trợ tối thiểu quy định tại Điều 8.
Cơ quan soạn thảo cho biết mức quy định chính sách đối với trẻ em quy định tại Điều 8 là mức “tối thiểu”.
Hiện, chính sách đối với giáo dục mầm non ở địa bàn khu công nghiệp, nơi có nhiều lao động do ngân sách địa phương bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành. Do đó, địa phương có thể chủ động ban hành định mức hỗ trợ phù hợp.
Những tỉnh, thành phố có nhiều đối tượng thụ hưởng đều quy định mức hỗ trợ cao hơn mức tối thiểu (TP. HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hải Phòng, Gia Lai, Lạng Sơn, Tuyên Quang…). Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất giữ nguyên quy định hiện hành.
Băn khoăn tỷ lệ 30%
Điều 5, Điều 10 Dự thảo Nghị định quy định điều kiện để cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục, giáo viên được hưởng chính sách hỗ trợ là có từ 30% trẻ em là con người lao động làm việc tại khu công nghiệp hoặc nơi có nhiều lao động.
Quá trình góp ý, Bộ Tư pháp và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho rằng, điều kiện 30% trẻ em là con công nhân, người lao động được áp dụng đồng thời tại Điều 5 và Điều 10 có thể làm phát sinh trường hợp cơ sở tập trung số lượng lớn con công nhân nhưng không đạt tỷ lệ do quy mô nhóm, lớp hoặc cơ cấu trẻ em.
Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo đánh giá thêm tác động, làm rõ cách xác định tỷ lệ, thời điểm chốt số liệu và xử lý biến động trong năm học.
Ngoài ra, cân nhắc quy định theo một trong hai tiêu chí “từ 30% hoặc từ một số lượng trẻ em tối thiểu, cụ thể” để chính sách đến đúng các cơ sở đang chia sẻ nhu cầu chăm sóc con của người lao động.
Cơ quan soạn thảo lý giải, nguồn kinh phí thực hiện nhóm chính sách này do các địa phương tự cân đối. Từ tháng 7/2025 đến nay có 29 tỉnh, thành phố đã ban hành Nghị quyết HĐND cấp tỉnh và đang thực hiện ổn định chính sách.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng, nếu thay đổi tiêu chí xác định đối tượng thụ hưởng (tỷ lệ trẻ em là con người lao động) tại thời điểm hiện nay có thể dẫn đến thay đổi phạm vi đối tượng thụ hưởng, làm phát sinh yêu cầu rà soát, điều chỉnh hoặc sửa đổi các văn bản chính sách của địa phương đã được ban hành. Do đó, Bộ giáo dục và Đào tạo đề nghị giữ nguyên quy định hiện hành để đảm bảo sự ổn định.