(Congluan.vn) – Báo NB&CL đã đăng bài “Dở khóc dở cười bản án sơ thẩm của Toà” (29/08/2013) về việc tranh chấp tài sản chung giữa bà Trần Thị Nguyệt Thu (ở quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ) và ông Thiều Quang Đức (ở phường 3, TP. Sóc Trăng). Vụ việc đã được TAND TP. Sóc Trăng xét xử, nhưng bản án sơ thẩm được cho là quá thiệt thòi cho người vợ...
Khóc vì bản án
Ngày 17/9/2013, trong phiên sơ thẩm tai TAND TP. Sóc Trăng, chủ tọa Trương Tố Hương quyết định: Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Nguyệt Thu về việc xác định diện tích đất thực tế 2.062,6 m2, thuộc thửa số 22-1, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa số 54, tờ bản đồ số 18) toạ lạc tại số 243 đường Trần Hưng Đạo, khóm 8, phường 3, TP. Sóc Trăng và một căn nhà có cấu trúc một tầng trệt, 2 tầng lầu cùng các vật kiến trúc gồm nhà xe (nay là 4 phòng trọ) được xây dựng trên thửa đất trên là tài sản chung của bà Thu và ông Đức trong thời kỳ hôn nhân. Không chấp nhận yêu cầu của bà Thu về việc chia đôi diện tích và căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 22-1, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa số 54, tờ bản đồ số 18).
Diện tích đất 2.062,6 m2 nói trên thuộc quyền sở hữu của bà Thiều Thị Minh Ngọc.
Công nhận một phần công sức đóng góp tôn tạo giá trị đất và một phần đóng góp chi phí cho việc xây dựng căn nhà cùng các công trình phụ trên thửa đất số 22-1, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa số 54, tờ bản đồ số 18) cho bà Thu và ông Đức được nhận tương ứng 1/3 công sức tôn tạo đất và 1/3 giá trị xây dựng nhà. Bà Thu và ông Đức mỗi người được nhận số tiền tương ứng là 541.510.559 đồng. Bà Thiều Thị Minh Ngọc có trách nhiệm giao lại cho ông Đức và bà Thu số tiền trên…
Trao đổi với NB&CL bà Trần Thị Nguyệt Thu nghẹn ngào: “TAND TP. Sóc Trăng chưa làm rõ nhiều vấn đề. Như việc bà Ngọc cho rằng vào năm 2004 bà Ngọc tặng thửa đất số 22-1, tờ bản đồ số 04 (nay là thửa số 54, tờ bản đồ số 18) cho riêng ông Đức chứ không chuyển nhượng… điều này là không hợp lý vì trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ngọc và ông Đức ngày 04/3/2004, xác nhận số 940 là “Hộ: Thiều Thị Minh Ngọc chuyển nhượng hết phần diện tích cho hộ Thiều Quang Đức.” Hai điểm mấu chốt là “chuyển nhượng”và “hộ”, nghĩa là có giao dịch chứ không tặng riêng. Thêm nữa, chữ “hộ” thể hiện là có cả hai vợ chồng, chứ không riêng cá nhân ông Đức. Vậy mà tòa không làm rõ...”
Còn nhiều uẩn khuất
Cũng theo bà Thu, vào ngày 20/11/2011, ông Trần Ngọc Thống, Phó Giám đốc Cty CP xây dựng Sóc Trăng có xác nhận: Vào thời điểm năm 2004 có hợp đồng với vợ chồng bà xây dựng căn nhà toạ lạc tại số 243 (số cũ 247) đường Trần Hưng Đạo, khóm 7, phường 3, TP. Sóc Trăng. Vậy mà vào ngày 14/9/2012 ông Lâm Xuân Đức, Chủ tịch HĐQT Cty trên lại trả lời lại rằng “Không hợp đồng với vợ chồng bà Thu về việc xây dựng nhà cho vợ chồng bà Thu”. Đây là một chi tiết quan trọng mà tòa chưa xét tới.
“Các anh thấy đấy, vào năm 2008, trong thời gian tranh chấp vậy mà bà Ngọc lại lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Đức, như vậy có đúng không. Ngoài ra, tôi có các chứng từ mua vật liệu xây dựng nhà, các chứng từ biên lai thu thuế nhà, đất do ông Đức nộp tiền thuế vậy mà cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ là thiệt thòi quyền và lợi ích hợp pháp của tôi”, bà Thu nghẹn ngào.
Sau hôn nhân, người vợ thường không chỉ thiệt hại về tinh thần, nhận trách nhiệm nuôi con, mà vật chất được bù đắp cũng vô cùng ít ỏi.
Những ngày này, bà Thu và 2 con đang phải ở nhà thuê, phải gồng mình nuôi nấng 2 con nhỏ nhờ những bạc cắc từ việc may vá lặt vặt. Người phụ nữ có nhiều đóng góp trong việc tạo lập gia sản cùng chồng, khi chia tay lại chỉ được nhận những quyền lợi quá ít ỏi, trong khi phải nuôi nấng, dạy dỗ 2 con nhỏ. Nhiều người xót xa rằng, dù trong hôn nhân hay khi chia tay, “chỉ người vợ phải khóc” (?)
Nhóm PV ĐBSCL