Một trong bốn nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7 là tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo đột phá nhằm giải phóng sức sáng tạo của toàn xã hội, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển văn hóa.
Trong đó, Luật Bản quyền tác giả, Luật Hoạt động nghệ thuật và Luật Công nghiệp văn hóa được xác định là ba dự án luật có tính nền tảng. Đây là khối lượng lập pháp lớn, liên quan trực tiếp tới quyền lợi của người sáng tạo, môi trường hoạt động nghệ thuật, thị trường văn hóa và năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Bản quyền - nền móng của thị trường sáng tạo
Trao đổi với phóng viên, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng cần hiểu đúng yêu cầu xây dựng ba đạo luật: triển khai đồng bộ ba đạo luật này không có nghĩa tất cả đều phải trình và thông qua cùng một thời điểm.
"Theo Nghị quyết số 155/NQ-CP ngày 19/6/2026 của Chính phủ, tiến độ trình Quốc hội xem xét, thông qua các dự án Luật này được xác định theo lộ trình: Luật Bản quyền tác giả trong giai đoạn 2026-2027; Luật Hoạt động nghệ thuật trong giai đoạn 2027-2028; Luật Công nghiệp văn hóa trong giai đoạn 2028-2029", PGS.TS Bùi Hoài Sơn chia sẻ.
Thứ tự này, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, có logic từ nền móng đến hệ sinh thái. Bản quyền cần đi trước bởi nếu quyền và lợi ích hợp pháp của người sáng tạo chưa được bảo vệ hiệu quả, rất khó hình thành một thị trường văn hóa lành mạnh. Tác phẩm có thể được phổ biến rộng nhưng người sáng tạo không nhận được lợi ích tương xứng; tài sản trí tuệ có thể bị khai thác nhưng chưa có cơ chế định giá và phân chia lợi ích rõ ràng.
"Trong môi trường số và trí tuệ nhân tạo, vấn đề sao chép, phân phối xuyên biên giới, khai thác dữ liệu, tác phẩm do AI tạo ra hoặc sử dụng tác phẩm để huấn luyện AI đang đặt ra hàng loạt vấn đề mới. Bản quyền chính là nền móng để sức sáng tạo có thể chuyển hóa thành tài sản", PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Một đạo luật về bản quyền trong bối cảnh mới vì thế không chỉ tập trung xử lý hành vi xâm phạm. Luật phải tạo được cơ chế để quyền tác giả trở thành tài sản có thể quản lý, cấp phép, chuyển giao và tạo ra giá trị; đồng thời bảo đảm cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền, doanh nghiệp khai thác, nền tảng và công chúng.
Luật phải mở đường, không tạo thêm giấy phép
Tiếp sau bản quyền, Luật Hoạt động nghệ thuật được kỳ vọng tạo một khuôn khổ pháp lý đầy đủ hơn cho lĩnh vực hiện vẫn có nhiều hoạt động được điều chỉnh chủ yếu bằng văn bản dưới luật. Sự phát triển nhanh của các loại hình biểu diễn, không gian sáng tạo, phương thức phát hành xuyên nền tảng và mô hình hợp tác công - tư đang đòi hỏi cách tiếp cận quản lý linh hoạt, minh bạch hơn.
Trong khi đó, Luật Công nghiệp văn hóa có phạm vi rộng nhất. Công nghiệp văn hóa không phải một ngành đơn lẻ mà là tập hợp nhiều lĩnh vực, từ điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, quảng cáo, thiết kế đến trò chơi điện tử, hoạt hình và nội dung số. Luật liên quan đồng thời đến đầu tư, tài chính, thuế, đất đai, khoa học - công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương mại, thị trường lao động và hợp tác quốc tế.
Chính vì vậy, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, dự án luật này cần được chuẩn bị trên nền dữ liệu đầy đủ về thị trường, doanh nghiệp, lao động, doanh thu, xuất khẩu, giá trị bản quyền và tài sản trí tuệ. Nếu thiếu dữ liệu gốc và không nhận diện đúng đặc trưng của từng lĩnh vực, chính sách rất dễ dừng ở nguyên tắc chung hoặc áp dụng một mô hình quản lý cho những ngành có cấu trúc hoàn toàn khác nhau.
Từ kinh nghiệm hoạt động Quốc hội, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng điều cần tránh nhất là vì áp lực tiến độ mà hy sinh chất lượng lập pháp. “Chúng ta cần luật để mở đường cho sáng tạo chứ không phải tạo thêm giấy phép; luật phải giải quyết được những vấn đề mới của thực tiễn chứ không đơn thuần pháp điển hóa những quy định hiện có”, ông nói.
Theo đó, yêu cầu này đặt ra một phương thức xây dựng luật cởi mở hơn. Nghệ sĩ, nghệ nhân, tác giả, nhà sản xuất, doanh nghiệp, chuyên gia công nghệ, đại diện nền tảng và công chúng phải được tham gia thực chất ngay từ quá trình nhận diện vấn đề. Mỗi quy định cần được đánh giá không chỉ ở góc độ quản lý nhà nước mà cả tác động tới động lực sáng tạo, chi phí tuân thủ, khả năng hình thành thị trường và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Chủ quyền văn hóa không có nghĩa là dựng “bức tường số”
Cùng với hoàn thiện thể chế, xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số được xác định là nhiệm vụ quan trọng.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, chủ quyền văn hóa số không nên được hiểu là "dựng một bức tường" để ngăn văn hóa nước ngoài, mà là xây dựng năng lực để văn hóa Việt Nam có thể hiện diện, được nhận biết, được yêu thích và có sức cạnh tranh trong một không gian mở. Giao lưu và tiếp biến văn hóa là tất yếu. Vấn đề không phải người trẻ có xem phim nước ngoài, nghe nhạc quốc tế hay sử dụng các nền tảng toàn cầu hay không, mà là trong dòng chảy ấy, văn hóa Việt Nam có đủ hấp dẫn để họ tự nguyện lựa chọn hay không.
Nhận định của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam chỉ rõ rằng một bộ phận người dân, nhất là giới trẻ, có xu hướng hiểu biết nhiều hơn về một số giá trị văn hóa nước ngoài so với văn hóa dân tộc. Do đó, yêu cầu xây dựng Chương trình phát triển không gian văn hóa số quốc gia, phát triển nền tảng, kênh truyền thông và hệ sinh thái nội dung mang bản sắc Việt Nam là hết sức cần thiết.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho biết muốn vậy, chính sách phải tác động đồng thời vào bốn yếu tố: dữ liệu, nền tảng, nội dung và con người.
Trước hết phải có hạ tầng dữ liệu văn hóa Việt Nam đủ lớn, chuẩn hóa, có định danh, nguồn gốc, bản quyền và khả năng tái sử dụng. Nếu trí tuệ nhân tạo trong tương lai được huấn luyện chủ yếu trên dữ liệu nước ngoài thì cách nó kể câu chuyện về Việt Nam cũng có nguy cơ được nhìn qua lăng kính của người khác.
Thứ hai, cần hoàn thiện trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới đối với bản quyền, nội dung bất hợp pháp, minh bạch hoạt động phân phối và trách nhiệm đối với xã hội Việt Nam; đồng thời tạo môi trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp nội dung số trong nước phát triển.
Tuy nhiên, theo ông Sơn, quản lý không thể thay thế cho sáng tạo. “Muốn cạnh tranh với nội dung hay thì cách bền vững nhất vẫn là tạo ra nội dung hay hơn”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định.
Vì vậy, Nhà nước cần có những quỹ, cơ chế đặt hàng, đầu tư có trọng tâm cho điện ảnh, hoạt hình, trò chơi điện tử, âm nhạc, thiết kế, xuất bản và những sản phẩm kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thế hệ trẻ. Phải tạo điều kiện để một truyền thuyết, một di sản, một nhân vật lịch sử hay một chất liệu dân gian có thể đi vào phim, game, thời trang, âm nhạc và những hình thức sáng tạo mới.
Cuối cùng, chủ quyền văn hóa số cần được củng cố từ năng lực văn hóa của mỗi công dân. Một thế hệ trẻ hiểu sâu về lịch sử, văn hóa dân tộc, đồng thời có khả năng tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa thế giới, sẽ tạo nên “sức đề kháng văn hóa” bền vững nhất.
Thể chế là điều kiện cần, nhưng sức hấp dẫn mới là yếu tố quyết định. Khi quyền sáng tạo được bảo vệ, thị trường vận hành minh bạch, dữ liệu văn hóa được làm giàu và sản phẩm Việt Nam đủ chất lượng để chinh phục công chúng, chủ quyền văn hóa trên không gian số sẽ không chỉ được bảo vệ bằng những hàng rào pháp lý mà được khẳng định bằng chính năng lực cạnh tranh của văn hóa Việt Nam, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.