Nguồn lực phải tương xứng với vị trí của văn hóa
Phát triển văn hóa không thể chỉ dựa vào nhận thức, quyết tâm hay những mục tiêu dài hạn. Để chủ trương đi vào cuộc sống, một trong những điều kiện có tính quyết định là nguồn lực thực hiện. Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7, khoảng cách giữa mức chi ngân sách thực tế và yêu cầu đặt ra tiếp tục là vấn đề được quan tâm.
Theo số liệu được nêu tại phiên họp, chi cho văn hóa hiện khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước. Trong khi đó, Nghị quyết số 28/2026/QH16 quy định Nhà nước bảo đảm chi hằng năm cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng khoảng cách này xuất phát từ cả cơ chế ràng buộc và mức độ ưu tiên trong phân bổ nguồn lực.
“Tôi nghĩ ở đây có cả hai yếu tố, nhưng sâu xa hơn vẫn là vị trí của văn hóa trong tư duy phân bổ nguồn lực”, ông Sơn nhận định.
Trong nhiều năm, văn hóa thường phải đứng sau những lĩnh vực được coi là cấp thiết hơn như hạ tầng, kinh tế và an sinh xã hội. Khi nguồn lực hạn hẹp, kinh phí dành cho văn hóa dễ bị cắt giảm hoặc phân bổ theo hướng duy trì hoạt động cơ bản. Cách tiếp cận này tạo ra tâm lý coi đầu tư cho văn hóa là việc “có điều kiện thì làm”, thay vì một khoản đầu tư cho phát triển bền vững.
Trong khi đó, văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và một trụ cột phát triển. Công nghiệp văn hóa được kỳ vọng hình thành các sản phẩm có giá trị gia tăng, tạo việc làm, mở rộng thị trường, thúc đẩy du lịch và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, khi vai trò của văn hóa đã được nâng lên trong định hướng phát triển đất nước, cơ chế ngân sách cũng phải thay đổi tương ứng.
“Khi chúng ta đã xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh, là một trụ cột của phát triển và công nghiệp văn hóa phải trở thành động lực tăng trưởng mới, thì cách phân bổ ngân sách cũng phải thay đổi tương ứng. Không thể kỳ vọng văn hóa tạo ra sức mạnh mềm, tài sản trí tuệ và đóng góp ngày càng lớn cho GDP nhưng nguồn lực vẫn được phân bổ theo tư duy cũ”, ông Sơn nhấn mạnh.
Cũng cần nhìn nhận đúng mốc áp dụng của chính sách. Nghị quyết số 28 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Vì vậy, con số 1,5% vừa phản ánh tồn tại tích tụ trong giai đoạn trước, vừa đặt ra yêu cầu điều chỉnh rõ ràng trong quá trình xây dựng, phân bổ và điều hành ngân sách.
“Không nên đơn giản nhìn con số 1,5% để kết luận ngay rằng cơ quan nào đó đã vi phạm quy định mới; điều quan trọng là từ nay cơ chế ngân sách phải chuyển động theo chuẩn pháp lý mới”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn lưu ý.
Không chạy theo con số, tránh đầu tư dàn trải
Mức tối thiểu 2% cần được coi là ngưỡng bảo đảm để văn hóa có điều kiện triển khai những nhiệm vụ thiết yếu. Tuy nhiên, tăng tỷ lệ chi chưa đồng nghĩa tự động tạo ra hiệu quả. Nếu nguồn lực tăng nhưng vẫn phân bổ dàn trải, nặng về chi thường xuyên hoặc dành cho những công trình thiếu khả năng vận hành lâu dài, điểm nghẽn cũ có thể tiếp tục tồn tại.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng Quốc hội cần giám sát đồng thời hai câu hỏi: chi bao nhiêu và chi vào đâu. Hiệu quả của ngân sách phải được đánh giá bằng sản phẩm, đối tượng thụ hưởng và tác động xã hội, không chỉ bằng tỷ lệ giải ngân hay số lượng dự án được phê duyệt.
“Hai phần trăm phải được coi là một ngưỡng bảo đảm, nhưng không nên chỉ chạy theo con số. Nếu tăng ngân sách nhưng chủ yếu dành cho chi thường xuyên, các công trình dàn trải, hiệu quả thấp thì chưa giải quyết được vấn đề”, ông Sơn nói.
Trước hết, nguồn lực cần ưu tiên cho con người và tài năng văn hóa. Nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu, người thực hành di sản và lực lượng sáng tạo trẻ là chủ thể làm ra sản phẩm văn hóa. Nếu thiếu cơ chế phát hiện, đào tạo, đãi ngộ và tạo môi trường hoạt động, đầu tư vào cơ sở vật chất khó có thể phát huy hiệu quả.
Chuyển đổi số và dữ liệu văn hóa cũng cần được xác định là một hướng ưu tiên. Việc số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu chuẩn hóa, xác định nguồn gốc và bản quyền không chỉ phục vụ quản lý, bảo tồn mà còn tạo nguồn tài nguyên cho giáo dục, nghiên cứu, du lịch, truyền thông và các ngành công nghiệp sáng tạo.
Đối với di sản, ngân sách cần gắn bảo tồn với phát huy giá trị. Bảo tồn không thể chỉ dừng ở việc tu bổ công trình, mà phải chú ý đến đời sống của cộng đồng nắm giữ di sản, khả năng truyền dạy, hoạt động giới thiệu, trải nghiệm và tạo sinh kế bền vững. Mỗi khoản đầu tư cần cân bằng giữa gìn giữ giá trị nguyên gốc và đưa di sản vào đời sống đương đại.
Nguồn lực cũng cần hướng tới sáng tạo tác phẩm và phát triển thị trường. Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, xuất bản, thiết kế, trò chơi điện tử và nội dung số đều cần những cơ chế đầu tư phù hợp với đặc thù rủi ro của hoạt động sáng tạo. Nhà nước không thể làm thay thị trường, nhưng có thể tạo vốn mồi, cơ chế đặt hàng và môi trường thử nghiệm để khuyến khích những sản phẩm có giá trị.
Khả năng tiếp cận văn hóa của người dân cần trở thành một tiêu chí quan trọng khi phân bổ và đánh giá ngân sách. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, khu công nghiệp, đô thị mới hay những nhóm yếu thế phải có cơ hội tham gia và thụ hưởng đời sống văn hóa. Đây là nơi ý nghĩa xã hội của mức chi ngân sách được thể hiện rõ nhất.
Ngân sách là thước đo của ưu tiên chính sách
Để mức chi tối thiểu 2% phát huy tác dụng, quá trình lập dự toán cần đi cùng danh mục ưu tiên, chỉ tiêu đầu ra và cơ chế đánh giá. Mỗi chương trình, dự án phải xác định được mục tiêu, sản phẩm, số người thụ hưởng, khả năng duy trì và tác động dài hạn. Những dự án không còn phù hợp hoặc hiệu quả thấp cần được rà soát để chuyển nguồn lực sang nhiệm vụ cấp thiết hơn.
“Ngân sách chính là một thước đo của mức độ ưu tiên chính sách. Khi chúng ta nói văn hóa có vị trí quan trọng thì sự coi trọng đó cuối cùng phải được thể hiện bằng thể chế, con người và nguồn lực cụ thể”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Khoảng cách từ 1,5% đến 2% vì vậy không chỉ là phép tính ngân sách. Đó còn là yêu cầu thay đổi tư duy đầu tư: từ chi để duy trì sang đầu tư tạo phát triển; từ phân bổ dàn trải sang lựa chọn trọng tâm; từ đánh giá bằng số tiền đã chi sang đo lường bằng giá trị văn hóa, xã hội và kinh tế được tạo ra.