Kế hoạch cũng nhằm phát huy vai trò của KTNN thông qua hoạt động kiểm toán và các hình thức kiểm tra, giám sát theo chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính độc lập về việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, tài nguyên khoáng sản liên quan đến công nghiệp vật liệu. Tạo cơ sở để lồng ghép, lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm các nội dung kiểm toán liên quan đến công nghiệp vật liệu trong kế hoạch kiểm toán hằng năm, kế hoạch kiểm toán trung hạn và các chuyên đề kiểm toán hoạt động, kiểm toán môi trường, kiểm toán công nghệ thông tin, kiểm toán ngân sách địa phương, kiểm toán các Bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty có liên quan.
Việc triển khai phải bám sát quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu, nhiệm vụ và giải pháp của Kết luận số 83-KL/TW, đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của KTNN, không hành chính hóa hoặc thay thế trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương. Việc triển khai phải có trọng tâm, trọng điểm, khả thi, gắn với nhiệm vụ chính trị thường xuyên của từng cấp ủy, tổ chức đảng, đơn vị; xác định rõ nhiệm vụ, sản phẩm, thời hạn, đầu mối chủ trì, cơ chế phối hợp và trách nhiệm theo dõi, đôn đốc.
Kế hoạch yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa kiểm toán tuân thủ, kiểm toán tài chính với kiểm toán hoạt động, kiểm toán môi trường và kiểm toán công nghệ thông tin; chú trọng đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả, tính bền vững và trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng nguồn lực phát triển công nghiệp vật liệu. Cùng với đó, tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn, công nghệ số, bản đồ số tài nguyên khoáng sản, viễn thám, thông tin địa lý và phương pháp phân tích rủi ro trong lựa chọn chủ đề, lập kế hoạch, thu thập bằng chứng và theo dõi thực hiện kiến nghị kiểm toán.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch là lồng ghép nội dung phát triển công nghiệp vật liệu vào chiến lược, kế hoạch và định hướng kiểm toán. Theo đó, KTNN rà soát kế hoạch kiểm toán trung hạn, kế hoạch kiểm toán hằng năm để lựa chọn các chủ đề, chuyên đề kiểm toán đồng thời với việc lồng ghép các nội dung kiểm toán liên quan đến phát triển công nghiệp vật liệu bền vững; ưu tiên những chủ đề có rủi ro cao, sử dụng nguồn lực lớn, tác động rộng, liên vùng, liên ngành.
Từ năm 2027, KTNN xây dựng kế hoạch kiểm toán, tăng cường đánh giá rủi ro đối với các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các dự án, chương trình có liên quan đến các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của Kết luận số 83-KL/TW. Việc lựa chọn chủ đề kiểm toán phải có khả năng cung cấp bằng chứng độc lập, khách quan phục vụ công tác giám sát, điều hành và hoàn thiện chính sách.
Cũng từ năm 2027, nghiên cứu xây dựng một số chuyên đề kiểm toán có tính liên ngành, liên vùng về phát triển công nghiệp vật liệu, chú trọng kiểm toán hoạt động, kiểm toán môi trường và kiểm toán công nghệ thông tin để đánh giá sâu hiệu quả, hiệu lực, tính bền vững của chính sách, chương trình, dự án.
Đối với những lĩnh vực, đối tượng có rủi ro cao, KTNN tập trung kiểm toán việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản, chú trọng rủi ro thất thu ngân sách, thất thoát, lãng phí tài nguyên. Trong đó, tập trung kiểm toán chuyên đề đối với hoạt động cấp phép, quản lý, khai thác và chế biến sâu các khoáng sản chiến lược, nhất là đất hiếm, bauxite, titan, các nguyên liệu phục vụ ngành bán dẫn và pin.
KTNN cũng kiểm toán việc thực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút các dự án về phát triển công nghiệp vật liệu; thực hiện kiểm toán môi trường đối với hoạt động cấp phép, khai thác, chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu; quản lý chất thải, tro xỉ, phế thải công nghiệp; thực hiện nghĩa vụ hoàn nguyên, phục hồi môi trường, hệ sinh thái sau khai thác.
Kiểm toán công nghệ thông tin, dữ liệu và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về công nghiệp vật liệu, trọng tâm là cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu, dữ liệu địa chất, khoáng sản; chú trọng tính đầy đủ, chính xác, kết nối, chia sẻ dữ liệu và an toàn thông tin. Kế hoạch đồng thời định hướng nghiên cứu sử dụng bản đồ số, dữ liệu không gian, ảnh vệ tinh, dữ liệu ngân sách - đầu tư - đất đai - tài nguyên - môi trường để nhận diện rủi ro, đối chiếu quy hoạch, kiểm tra hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản và xác định trọng tâm kiểm toán.
Đối với các chương trình, dự án phát triển công nghiệp vật liệu có quy mô lớn, tác động rộng, KTNN chuyển mạnh từ kiểm toán tuân thủ đơn thuần sang đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả, hiệu quả xã hội, môi trường, khả năng vận hành, khai thác sau đầu tư và tác động đến mục tiêu phát triển bền vững. Đồng thời, từng bước xây dựng phương pháp, tiêu chí, chỉ số kiểm toán đối với lĩnh vực công nghiệp vật liệu, bảo đảm kết quả kiểm toán không chỉ phát hiện sai phạm mà còn đánh giá chất lượng quản trị, hiệu quả chính sách, tính bền vững và trách nhiệm giải trình của cơ quan, đơn vị được kiểm toán.
Kế hoạch cũng yêu cầu bám sát hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của Kết luận số 83-KL/TW đến năm 2030 để lựa chọn nội dung kiểm toán phù hợp, nhất là các chỉ tiêu liên quan đến nguồn lực ngân sách, đầu tư công, tài sản công, tài nguyên khoáng sản, tỉ lệ nội địa hóa vật liệu chiến lược, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường.
KTNN xây dựng cơ chế tổng hợp kết quả, kiến nghị kiểm toán liên quan đến phát triển công nghiệp vật liệu theo nhóm chính sách, địa bàn, ngành, lĩnh vực và rủi ro; tăng cường theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị kiểm toán đối liệu với các kết luận, kiến nghị liên quan đến quản lý nguồn lực phát triển công nghiệp vật liệu…