Kiểm toán trong môi trường công nghệ thông tin, làm thế nào để kiểm soát rủi ro ?

Những rủi ro có thể xảy ra từ việc ứng dụng công nghệ

Theo Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA), các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) có nhiều khả năng xảy ra rủi ro phát sinh do khối lượng dữ liệu hoặc giao dịch ngày càng lớn; chức năng của ứng dụng rất phức tạp, tự động bắt đầu các giao dịch hoặc có nhiều phép tính phức tạp làm nền tảng cho các mục nhập tự động. Ngoài ra, các nhà quản lý dựa vào ứng dụng để xử lý hoặc duy trì dữ liệu, cũng như thực hiện một số biện pháp kiểm soát tự động.

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên (KTV) phải hiểu được các hệ thống CNTT của tổ chức, kiểm kê các hệ thống và tài nguyên CNTT (ngân sách và nhân sự, phần mềm và phần cứng). Đồng thời, xác định ứng dụng CNTT nào quan trọng liên quan đến báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp, từ đó thu thập thông tin, tìm hiểu đầy đủ về chúng.

kiem toan trong moi truong cong nghe thong tin lam the nao de kiem soat rui ro hinh 1

KTV cần xác định và đánh giá các biện pháp kiểm soát rủi ro khi kiểm toán trong môi trường CNTT. Ảnh tư liệu

Rủi ro phát sinh từ việc sử dụng CNTT cũng bao gồm các rủi ro liên quan đến việc các ứng dụng CNTT đang xử lý dữ liệu không chính xác do truy cập trái phép vào dữ liệu, phá hủy/thay đổi dữ liệu không đúng cách, hoặc nhiều người dùng truy cập vào cơ sở dữ liệu chung. Thêm vào đó, nhiều tổ chức đang bỏ qua việc thực hiện những thay đổi cần thiết đối với ứng dụng CNTT hoặc các khía cạnh khác của môi trường CNTT; can thiệp thủ công không phù hợp; nhân viên CNTT có được các đặc quyền truy cập vượt quá những đặc quyền cần thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao cũng sẽ dẫn đến phá vỡ sự phân chia nhiệm vụ.

Hàng loạt những thay đổi trái phép đối với các ứng dụng CNTT hoặc các khía cạnh khác của môi trường CNTT sẽ dẫn đến khả năng mất dữ liệu hoặc không thể truy cập dữ liệu theo yêu cầu. Những rủi ro này đều ảnh hưởng đến việc đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm ẩn ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, từ đó ảnh hưởng đến số lượng các thủ tục kiểm toán cần thực hiện.

Phán đoán chuyên môn của KTV là chìa khóa để nhận ra nơi có rủi ro để mở rộng phạm vi kiểm toán một cách hợp lý

Theo Chuẩn mực kiểm toán số 145 (SAS 145) - Hiểu biết về đơn vị, môi trường của đơn vị và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu - do AICPA phát hành, các KTV không nhất thiết phải trở thành chuyên gia CNTT, nhưng họ cần thường xuyên cập nhật những ứng dụng công nghệ mà tổ chức đang sử dụng và các biện pháp kiểm soát CNTT của tổ chức. Phán đoán chuyên môn của KTV là chìa khóa để nhận ra nơi có rủi ro để mở rộng phạm vi kiểm toán một cách hợp lý.

SAS 145 yêu cầu KTV xem xét việc sử dụng công nghệ của khách hàng, những rủi ro mà việc sử dụng công nghệ mang lại và những biện pháp kiểm soát nào (nếu có) được áp dụng để giải quyết những rủi ro này. Nói cách khác, KTV sẽ xác định ứng dụng nào, các khía cạnh nào trong môi trường CNTT của đơn vị có rủi ro, từ đó xác định các biện pháp kiểm soát và thực hiện các thủ tục liên quan đến các biện pháp kiểm soát đó.

Chuẩn mực kiểm toán số 300 (các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán hoạt động) của Tổ chức quốc tế Các cơ quan Kiểm toán tối cao (ISSAI 300) cũng nhấn mạnh, khi thực hiện kiểm toán, KTV cần tập trung vào kiểm soát quản trị và quản lý CNTT; kiểm soát quản lý dữ liệu; kiểm soát bảo mật thông tin; kiểm soát quản lý thay đổi đảm bảo rằng các hệ thống và điều khiển tiếp tục hoạt động như thiết kế; kiểm soát thuê ngoài. Tiêu chí quan trọng nhất đối với thông tin khi xem xét các kiểm soát chung là tính toàn vẹn (độ tin cậy).

Để thuận tiện cho việc đánh giá rủi ro và lập kế hoạch kiểm toán trong môi trường CNTT, KTV cần ghi chép đầy đủ: Ứng dụng CNTT nào đưa vào báo cáo tài chính và giao dịch; Khu vực tài khoản nào được xử lý thông qua các ứng dụng CNTT. Mục đích của việc đánh giá sự phức tạp của các hệ thống CNTT là để xác định rủi ro và quyết định xem có cần hỗ trợ bên ngoài không.

Hiệu quả của kiểm soát CNTT sẽ phụ thuộc vào độ mạnh của các kiểm soát chung. Nếu KTV kết luận rằng các kiểm soát chung có hiệu quả thì bước tiếp theo là đánh giá tính hiệu quả của các kiểm soát ứng dụng (được thực hiện thủ công hoặc bằng phần mềm máy tính). Với kiểm soát ứng dụng, KTV cần đánh giá 6 loại chính: Kiểm soát tài liệu hệ thống; kiểm soát đầu vào; kiểm soát xử lý; kiểm soát đầu ra; kiểm soát truyền dữ liệu; dữ liệu thường trực và kiểm soát tệp chủ. KTV có thể thu thập bằng chứng kiểm toán bằng cách quan sát, kiểm tra, điều tra và xác nhận, tái lập, tính toán lại, phân tích hoặc các phương pháp được chấp nhận chung khác.

Bên cạnh đó, khi dựa vào ứng dụng CNTT để thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV cần kiểm tra các biện pháp kiểm soát đối với báo cáo do hệ thống tạo ra. Điều này bao gồm việc xác định và kiểm tra các biện pháp kiểm soát CNTT chung nhằm giải quyết rủi ro, chẳng hạn như thay đổi chương trình trái phép hoặc giả mạo dữ liệu. Hiểu được những thay đổi này giúp KTV đánh giá rủi ro tiềm ẩn ở cấp độ cơ sở dẫn liệu.

Việc hiểu rõ những ứng dụng CNTT nào đang được áp dụng, các đặc điểm khác của môi trường CNTT, những rủi ro phát sinh từ việc sử dụng CNTT và các biện pháp kiểm soát CNTT chung do đơn vị triển khai sẽ giúp KTV xây dựng một kế hoạch kiểm toán khả thi. Hệ thống CNTT rất quan trọng đối với đơn vị nên sự hiểu biết sẽ là chìa khóa giúp KTV thực hiện cuộc kiểm toán một cách hiệu quả.

Xem thêm

Chấm dứt cho vay tập trung vào dự án thuộc hệ sinh thái, 'sân sau' của tập đoàn

Chấm dứt cho vay tập trung vào dự án thuộc hệ sinh thái, 'sân sau' của tập đoàn

(CLO) Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt yêu cầu: Các tổ chức tín dụng chấm dứt tình trạng cho vay tập trung vào một số doanh nghiệp, nhóm khách hàng lớn, dự án thuộc hệ sinh thái hoặc sân sau của tập đoàn có thể gây ra các rủi ro, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn và lành mạnh của tổ chức tín dụng.

TAND Tối cao hướng dẫn loạt cơ chế đặc thù khi xử lý án sai phạm đất đai

TAND Tối cao hướng dẫn loạt cơ chế đặc thù khi xử lý án sai phạm đất đai

(CLO) Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao vừa ban hành Nghị quyết 04/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn cơ chế đặc thù xét xử vi phạm đất đai trước ngày 1/8/2024. Theo đó, chính sách chỉ áp dụng với các sai phạm không tham nhũng, đồng thời mở cơ chế tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hoặc giảm tối đa 4/5 mức hình phạt tương ứng với tỷ lệ khắc phục hậu quả.

Bắc Ninh trước thời khắc chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

Bắc Ninh trước thời khắc chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương

(CLO) Những ngày này, trên các tuyến phố trung tâm phường Bắc Ninh, không khí chuẩn bị cho sự kiện ngày 19/9 được thể hiện rõ qua hệ thống cờ, pano, áp phích, cụm trang trí và các không gian giới thiệu văn hóa Kinh Bắc. Công tác chỉnh trang đô thị đang được hoàn thiện, tạo diện mạo khang trang trước dấu mốc thành lập thành phố Bắc Ninh.

Bộ đội chủ động ứng phó với mưa lớn, căng mình giữ đê, giúp dân tránh ngập

Bộ đội chủ động ứng phó với mưa lớn, căng mình giữ đê, giúp dân tránh ngập

(CLO) Trước diễn biến mưa lớn còn tiếp diễn, nguy cơ ngập lụt, sạt lở tại nhiều khu vực ở Thanh Hóa, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị thuộc Quân đoàn 12 và Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa đang bám địa bàn, phối hợp cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân chủ động ứng phó, hạn chế thiệt hại do thiên tai.

Từ ngày 8/10, học bạ số có giá trị pháp lý như học bạ giấy

Từ ngày 8/10, học bạ số có giá trị pháp lý như học bạ giấy

(CLO) Từ ngày 8/10/2026, Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực, quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên. Theo quy định mới, học bạ số được tạo lập đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đầy đủ nội dung và được ký số theo quy định sẽ có giá trị pháp lý như học bạ giấy; mỗi người học được tạo lập một học bạ số duy nhất.

Chuẩn bị thi hành Luật Phát triển đô thị: Phân cấp mạnh cho TP HCM và các địa phương

Chuẩn bị thi hành Luật Phát triển đô thị: Phân cấp mạnh cho TP HCM và các địa phương

(CLO) Nhằm chuẩn bị hiệu lực thi hành Luật Phát triển đô thị từ ngày 1/10/2026, Chính phủ phân công xây dựng các văn bản thi hành và văn bản quy định nội dung tại Luật Phát triển đô thị gồm: Văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ; văn bản thuộc thẩm quyền của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh; văn bản thuộc thẩm quyền của Bộ, cơ quan ngang Bộ; văn bản thuộc thẩm quyền của tỉnh, thành phố nơi có khu kinh tế đặc biệt.

Đến năm 2030, mọi chính sách liên quan đến trẻ em được lấy ý kiến trẻ em

Đến năm 2030, mọi chính sách liên quan đến trẻ em được lấy ý kiến trẻ em

(CLO) Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, 100% chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội về trẻ em hoặc liên quan đến trẻ em được tham vấn, lấy ý kiến trẻ em hoặc tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em.

Khám sức khỏe toàn dân: Ưu tiên người yếu thế, vùng sâu vùng xa, không chạy theo thành tích

Khám sức khỏe toàn dân: Ưu tiên người yếu thế, vùng sâu vùng xa, không chạy theo thành tích

(CLO) Về khám sức khỏe cho người dân, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ưu tiên người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người mắc bệnh mạn tính, người sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo, đặc khu và các đối tượng ưu tiên khác theo quy định, bảo đảm không tổ chức dàn trải, không chạy theo tỷ lệ, thành tích.

Cỡ chữ bài viết: