Mỹ liên tục điều chỉnh lãi suất, kinh tế Việt Nam ảnh hưởng thế nào?

(NB&CL) Theo TS. Vũ Đình Ánh, một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động từ việc FED tăng lãi suất nói riêng và các nước phát triển thắt chặt tiền tệ nói chung.

Vì sao Mỹ liên tục điều chỉnh tăng lãi suất?

Sau hơn 2 năm đối mặt với đại dịch COVID-19, thế giới đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát tồi tệ trong nhiều năm. Ngay cả các siêu cường kinh tế như Mỹ, Đức, Anh hay Nhật Bản đều đang tìm giải pháp để kiềm chế lạm phát gia tăng.

my lien tuc dieu chinh lai suat kinh te viet nam anh huong the nao hinh 1

Mỹ liên tục điều chỉnh tăng lãi suất đã có ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam.

Chuyên gia kinh tế  TS. Vũ Đình Ánh cho rằng để kiểm soát lạm phát, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã lựa chọn giải pháp tăng lãi suất cơ bản, lên mức cao nhất kể từ năm 1994.

Trên thực tế, từ đầu năm 2022 tới nay, FED đã nhiều lần điều chỉnh lãi suất cơ bản. Cụ thể, tháng 3/2022, FED tăng lãi suất cơ bản lên 0,25% sau 4 năm lãi suất đứng ở mức 0%. Đến tháng 5/2022, FED tiếp tục tăng lãi suất thêm 0,5%, đẩy lãi suất tham chiếu tại Mỹ lên mức 0,75% - 1%.

Để đối phó với lạm phát, vào tháng 6/2022, một lần nữa FED tăng thêm 0,75% lãi suất, nâng lãi suất tham chiếu lên khoảng 1,5 - 1,75%.

Theo dự báo của Goldman Sachs, từ nay đến hết năm 2022, FED có thể tiếp tục tăng lãi suất thêm vài lần nữa, lãi suất tham chiếu có thể đạt ngưỡng 3,25-3,5% vào cuối năm.

Với dự báo FED sẽ còn nâng lãi suất nhiều lần nữa trong năm 2022, rõ ràng thời kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ của Mỹ đã chấm dứt và dòng tiền giá rẻ nhằm phục hồi kinh tế trong và sau đại dịch COVID-19 sẽ không còn nữa hay ít nhất là dừng lại.

TS. Vũ Đình Ánh đánh giá, tình hình lạm phát của Mỹ đang trở nên tồi tệ từ tháng 5/2022, đã khiến FED mạnh tay hơn trong mỗi lần nâng lãi suất. Bởi lẽ, sự chậm trễ trong điều chỉnh lãi suất của FED, đã khiến cho lạm phát tại Mỹ “nóng” nhất trong vòng 40 năm gần đây và tăng lãi suất đột ngột với biên độ lớn lại làm cho nền kinh tế lao đao, thậm chí sớm rơi vào suy thoái.

Tuy nhiên, việc tăng lãi suất của FED giai đoạn hiện nay giống như con dao hai lưỡi, khi mà kinh tế Mỹ và kinh tế phần lớn các quốc gia trên thế giới đang chịu tác động mạnh bởi yếu tố địa chính trị, như cuộc chiến ở châu Âu kèm theo các biện pháp trừng phạt kinh tế vô tiền khoáng hậu.

Bên cạnh đó, nhiều nước phát triển đảo chiều chính sách tiền tệ từ nới lỏng sang thắt chặt cũng như chính sách zero-Covid của Trung Quốc đều làm cho chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, nguồn cung thu hẹp và giá cả leo thang.

Trong bối cảnh đó, dòng tiền bị cũng thu hẹp và chuyển hướng cùng với tiền “tăng giá” (lãi suất tăng) rất có thể là giọt nước tràn ly khiến cho suy thoái kinh tế xuất hiện, hơn nữa nếu chính sách thắt chặt tiền tệ không hiệu quả thì tình trạng đình lạm, suy thoái kèm theo lạm phát cao. Đây là điều không thể tránh khỏi.

my lien tuc dieu chinh lai suat kinh te viet nam anh huong the nao hinh 2

TS. Vũ Đình Ánh.

Mỹ tăng lãi suất ảnh hưởng tới Việt Nam thế nào?

Theo TS. Vũ Đình Ánh, một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động từ việc FED tăng lãi suất nói riêng và các nước phát triển thắt chặt tiền tệ nói chung.

Thứ nhất, lãi suất tăng có thể làm nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại và làm giảm nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ đối với hàng hóa nước ngoài. Vì vậy, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ có thể gặp khó khăn hơn.

Điều đáng quan ngại rằng, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cũng là thị trường Việt Nam có thặng dư thương mại lớn nhất, lên tới hàng chục tỷ USD mỗi năm. Trong vài năm gần đây, sự tăng trưởng hàng hóa Việt Nam tại Mỹ luôn ở mức 2 con số. Do đó, quá trình tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới hàng hóa Việt Nam.

“Lợi thế của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ, phần lớn là hàng hóa thiết yếu, thậm chí có lợi đáng kể khi lạm phát ở Mỹ tăng cao. Tuy vậy, điều chỉnh chính sách thương mại phù hợp với bối cảnh lạm phát và dấu hiệu suy thoái của kinh tế Mỹ là cần thiết và cấp bách”, ông Ánh nói.

Thứ hai, FED tăng lãi suất có thể khiến cho dòng vốn đầu tư toàn cầu đảo chiều chuyển từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển, đặc biệt là về Mỹ.

Theo đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể tăng chậm lại. Do đó, nguồn lực đầu tư chiếm khoảng 1/4 tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam rất có thể co hẹp lại.

Tuy nhiên, mức độ co hẹp không đến mức quá lo ngại khi các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu vào Việt Nam đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản hay Singapore chứ không phải từ Mỹ hay châu Âu, hơn nữa, triển vọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn phụ thuộc nhiều hơn vào chính sách và môi trường đầu tư của Việt Nam.

Thứ ba, FED và Ngân hàng Trung ương nhiều nước quyết định và dự định tăng lãi suất sẽ gây áp lực mạnh mẽ lên chính sách tiền tệ nói chung, chính sách lãi suất nói riêng của Việt Nam.

TS. Vũ Đình Ánh phân tích: Năm 2022, Việt Nam dự định nới lỏng chính sách tiền tệ và nỗ lực hạ lãi suất, kể cả hỗ trợ lãi suất để phục hồi kinh tế nhân cơ hội lạm phát trong nước vẫn được kiểm soát tốt.

Tuy nhiên, việc các quốc gia tăng lãi suất có thể làm cho cơ hội giảm lãi suất và kiểm soát lạm phát ở mức thấp của Việt Nam năm 2022 giảm đáng kể. Đặc biệt, khả năng nhập khẩu lạm phát đang tăng trở lại, bên cạnh lạm phát do cầu kéo cũng có dấu hiệu quay lại.

“Việt Nam cần xử lý tốt mối quan hệ trong tam giác bất khả thi giữa dòng vốn nước ngoài với lãi suất và tỷ giá hối đoái trong bối cảnh nền kinh tế lệch pha mới hạn chế được tác động tiêu cực của việc FED tăng lãi suất”, TS Ánh chia sẻ.

Cuối cùng, FED nâng lãi suất khiến cho USD lên giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt khác, theo đó, VND cũng chịu áp lực mất giá sau hai năm liên tiếp VND lên giá trên dưới 1% so với USD.

Chỉ số USD-Index hồi đầu tháng 5/2022 đã lên trên 100 điểm chứng tỏ khả năng USD lên giá trên toàn cầu gần như chắc chắn.

Nếu VND mất giá so với USD thì có lợi cho xuất khẩu của Việt Nam, song thiệt hại lại còn lớn hơn. Do VND mất giá, sẽ khuếch đại nhập khẩu lạm phát đồng thời thu hẹp khả năng giảm hay ít nhất là duy trì mặt bằng lãi suất hiện nay nhằm giúp nền kinh tế phục hồi sau đại dịch.

“Nói cách khác, nếu USD lên giá so với VND ngay trong năm 2022 thì Việt Nam sẽ rơi vào trạng thái chưa kịp nới lỏng chính sách kinh tế vĩ mô để phục hồi kinh tế thì đã phải thắt chặt do nguy cơ lạm phát cao”, TS. Vũ Đình Ánh cảnh báo.

Việt Vũ

Xem thêm

Tập đoàn Than - Khoáng sản VN: Đảm bảo cung ứng đủ than cho nhà máy nhiệt điện trong cao điểm mùa khô

Tập đoàn Than - Khoáng sản VN: Đảm bảo cung ứng đủ than cho nhà máy nhiệt điện trong cao điểm mùa khô

Theo Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), trong tháng 4 vừa qua, Tập đoàn này tiếp tục điều hành quyết liệt hoạt động sản xuất kinh doanh, duy trì mức tăng trưởng cao ở các lĩnh vực chủ lực như than, khoáng sản, điện, vật liệu nổ… so với bình quân chung của năm.

Giữa áp lực lãi suất tăng, VPBankS sẵn sàng bứt tốc mảng margin nhờ lợi thế về vốn

Giữa áp lực lãi suất tăng, VPBankS sẵn sàng bứt tốc mảng margin nhờ lợi thế về vốn

Dù thị trường chứng khoán chịu tác động từ lãi suất tăng và biến động địa chính trị, VPBankS vẫn ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong quý I/2026. Nền tảng vốn vững chắc cùng năng lực huy động mạnh là lợi thế giúp công ty tiếp tục gia tăng thị phần, hoàn thành kế hoạch ĐHĐCĐ giao.

VN-Index dự báo rung lắc và lùi về vùng hỗ trợ 1.800 điểm

VN-Index dự báo rung lắc và lùi về vùng hỗ trợ 1.800 điểm

(CLO) Thị trường chứng khoán Việt Nam đang chịu chi phối lớn từ nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn và có thể xuất hiện nhịp điều chỉnh nhẹ sau giai đoạn tăng mạnh. Mức điều chỉnh được dự báo không quá sâu, VN-Index có thể lùi về vùng hỗ trợ 1.800 điểm.

E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu xăng dầu gia tăng và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất đã hoạt động trở lại với một vai trò mới; nguồn cung E100 ổn định, tạo lợi thế đặc biệt trong pha chế xăng sinh học. Sự phục hồi của nhà máy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho chuỗi nhiên liệu sinh học trong nước.
BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

(CLO) Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (mã chứng khoán: BSR) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026 với kết quả sản xuất kinh doanh tăng trưởng rất ấn tượng. Theo đó, tổng doanh thu hợp nhất đạt 46.462 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng - mức cao nhất so với cùng kỳ và vượt xa kỳ vọng của thị trường.
Cỡ chữ bài viết: