Ngoại giao Việt Nam đóng góp vào giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - Những bài học lịch sử còn nguyên giá trị

Cách đây 50 năm, Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là trang sử hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc như Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 đã nhận định "Thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX".

Nền ngoại giao Việt Nam rất vinh dự và tự hào được đóng góp vào thắng lợi vĩ đại và to lớn đó của dân tộc. Lịch sử 80 năm qua đã cho thấy trong những thắng lợi vĩ đại của đất nước, những chiến thắng trên chiến trường đều gắn liền với những thắng lợi trên bàn đàm phán. Nếu như chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã tạo thế cho những kết quả trên bàn đàm phán ở Hội nghị Geneva thì thắng lợi trong Hội nghị Paris đã góp phần quan trọng vào chiến thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử. Những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao trong giai đoạn này đã để lại những bài học vô giá, còn nguyên giá trị đến ngày nay.

pttg-btng-bui-thanh-son-174592421025551449829.jpg
Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn.

Ngoại giao – mặt trận chiến lược quan trọng

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, thực hiện mệnh lệnh thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi, tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà", lợi ích quốc gia – dân tộc trên hết và trước hết lúc này là làm thế nào để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong hoàn cảnh phải "lấy yếu đánh mạnh", Đảng ta đã xác định việc tạo dựng sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại là một nhân tố quyết định. Đó là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, từ Bắc chí Nam; sức mạnh của tình đoàn kết với Lào và Campuchia; sức mạnh của sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc và sức mạnh của sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới. Với tinh thần đó, Hội nghị Trung ương 13 năm 1967 đã xác định "Đấu tranh ngoại giao không đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh chiến trường mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ vai trò quan trọng, tích cực, chủ động". Tiếp đó năm 1969, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết xác định "Ngoại giao trở thành mặt trận chiến lược, có ý nghĩa quan trọng".

Một là ngoại giao đã kết hợp với quân sự, chính trị, tạo ra thế trận "vừa đánh vừa đàm", huy động sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Trong đó đấu tranh quân sự và chính trị là cơ sở cho đàm phán trên mặt trận ngoại giao; ngược lại, đấu tranh ngoại giao góp phần cộng hưởng thắng lợi của đấu tranh chính trị và quân sự. Bằng những sách lược linh hoạt và mềm dẻo, khi thời cơ chín muồi, ta đã buộc Mỹ ngồi vào đàm phán từ năm 1969, mở ra cục diện mới đi vào giành thắng lợi từng bước. Những cuộc đấu trí cam go trên bàn đàm phán với cường quốc hàng đầu thế giới đã tôi luyện bản lĩnh và trí tuệ của ngoại giao cách mạng Việt Nam. Các nhà ngoại giao lỗi lạc như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình… đã trở thành biểu tượng cho ý chí kiên định, đầy bản lĩnh, sắc sảo nhưng mềm dẻo của ngoại giao Việt Nam.

Nghệ thuật "đánh – đàm" trong ngoại giao đã đạt đến đỉnh cao với việc ký Hiệp định hòa bình Paris. Cùng với các chiến thắng Khe Sanh, Mậu Thân…, những thắng lợi trên bàn đàm phán đã buộc Mỹ xuống thang và ký Hiệp định tháng 1/1973, hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút" để tiến tới "đánh cho ngụy nhào". Thể theo Hiệp định, Mỹ buộc phải rút toàn bộ quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị và phong trào quần chúng cách mạng củng cố. Từ đó hình thái chiến trường thay đổi theo hướng có lợi cho cách mạng, tạo thời cơ như Bộ Chính trị nhận định năm 1974 "ngoài thời cơ này, không còn thời cơ nào khác" cho giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Hai là ngoại giao đã tranh thủ sức mạnh của ba dòng thác cách mạng, huy động được sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và mặt trận quốc tế rộng rãi ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Câu nói "Vì Việt Nam, nhân dân Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình" của Chủ tịch Fidel Castro đã trở thành khẩu hiệu tiêu biểu cho sự hỗ trợ vật chất và tinh thần của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Cùng với ý chí, quyết tâm của quân và dân ta, sự chi viện, giúp đỡ mọi mặt của các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần lập nên những chiến công lẫy lừng trên chiến trường.

Bằng uy tín và các hoạt động ngoại giao của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh đạo tiền bối không chỉ huy động được sự ủng hộ mà còn đóng góp to lớn vào việc củng cố đoàn kết, hợp tác của các nước xã hội chủ nghĩa Cách mạng Việt Nam đã trở thành ngọn cờ quy tụ sự đoàn kết của các nước xã hội chủ nghĩa vượt qua những thời khắc có những rạn nứt, bất đồng. Đồng thời với tinh thần "giúp bạn là giúp mình", ta đã xây dựng tình đoàn kết và liên minh chiến đấu với Lào và Campuchia, góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng của mỗi nước.

Bên cạnh đó, ngoại giao "tâm công" Việt Nam đã thu phục lòng người bằng chính nghĩa, lẽ phải và đạo lý, tạo nên mặt trận nhân dân rộng khắp ủng hộ Việt Nam. Hai chữ "Việt Nam" đã trở thành biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc, trong đó có cả nhân dân Mỹ và đông đảo chính khách, học giả, nhân sĩ nổi tiếng thế giới.

Hàng triệu người khắp năm châu, ngay cả trong lòng nước Mỹ đã xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh; phong trào tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu, hiến máu, lập quỹ quyên góp… lan rộng khắp thế giới. Hình ảnh các nhà lãnh đạo như Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme tham gia biểu tình hay những nhà hoạt động vì hòa bình như Norman Morrison tự thiêu phản đối chiến tranh đã trở thành biểu tượng cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, công lý.

Ba là với tinh thần "hòa hiếu", ngoại giao đã mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước và đặt nền móng cho sự hòa giải với các nước đã từng tham chiến. Trong những ngày khói lửa chiến tranh, chúng ta đã luôn bày tỏ mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước đang tham chiến tại Việt Nam, kể cả với Mỹ, sẵn sàng "trải thảm đỏ" cho Mỹ rút. Với các cử chỉ thiện chí như đối xử nhân đạo với tù binh, trao trả tù binh, tạo thuận lợi cho việc di tản công dân…, tinh thần ngoại giao hòa hiếu đã thể hiện thiện chí hòa bình, nhân đạo và góp phần khôi phục quan hệ bình thường với các nước sau này.

Cùng với cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta, ngoại giao đã nêu cao tinh thần "làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần mở rộng quan hệ không chỉ với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước thuộc địa cũ mới giành độc lập. Ngay sau thắng lợi của Hiệp định Paris, ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước tư bản phát triển phương Tây như Nhật Bản, Anh, Pháp, Italy, Canada, Bỉ, Hà Lan…, mở rộng sự công nhận với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bốn là như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "muốn thành công thì phải biết trước mọi việc", việc nghiên cứu, dự báo chiến lược của ngoại giao đã hỗ trợ đắc lực cho mặt trận đấu tranh chính trị và quân sự. Ngoại giao đã đánh giá, nhận định đúng tình hình thế giới, lợi ích và chủ trương của bạn bè cũng như đối thủ, từ đó giúp Trung ương Đảng có những quyết sách kịp thời trong từng giai đoạn. Trong giai đoạn đánh - đàm, cùng với tiến công quân sự, ngoại giao đã đẩy mạnh tấn công chính trị, dư luận buộc Mỹ phải ngừng tấn công bắn phá miền Bắc, chấp nhận chuyển hướng chiến lược và ngồi vào đàm phán với Việt Nam.

Lịch sử các cuộc chiến tranh đều cho thấy, mỗi dự báo chiến lược có sức mạnh không kém những binh đoàn, ngoại giao cũng góp phần vào những chiến thắng trên mặt trận quân sự. Trong mỗi hoạt động lớn như cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử…, ngoại giao đã cùng với các lực lượng khác đánh giá đúng về tình hình đối thủ để từ đó có các dự báo chuẩn xác về bước đi quân sự. Đặc biệt trong cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975, ngoại giao đã đánh giá đúng về những khó khăn của chính quyền Sài Gòn và chiều hướng chính sách của Mỹ, dự báo chuẩn xác về Mỹ không thể can thiệp quân sự trở lại.

Những bài học trong kỷ nguyên vươn mình

Nền ngoại giao non trẻ của Việt Nam ra đời, trưởng thành trong 9 năm kháng chiến chống Pháp và được tôi luyện trong 20 năm kháng chiến chống Mỹ. Những chiến công hiển hách trên bàn đàm phán ở Geneva năm 1954 và tại Paris năm 1973 là sự kết tinh trí tuệ trong những giai đoạn cam go nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam. Được thử thách, trui rèn trong thực tiễn vào những thời điểm lợi ích quốc gia - dân tộc bị đe dọa nghiêm trọng, những bài học này vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay.

Những thay đổi mang tính thời đại đòi hỏi những quyết sách mang tính cách mạng. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói "trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, ngoại giao Việt Nam phải vươn lên những tầm cao mới để hoàn thành những trọng trách vinh quang mới, xứng đáng là đội quân tiên phong, binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam". Thấm nhuần tư tưởng đó, ngoại giao Việt Nam sẽ phát huy những bài học có giá trị vượt thời đại trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình.

Thứ nhất là bài học bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong suốt cuộc kháng chiến, ngoại giao đã thấm nhuần lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 3 năm 1964 là ngoại giao "phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ". Ngày nay, lợi ích quốc gia-dân tộc vẫn là kim chỉ nam cho hành động, là căn cứ quan trọng nhất để xác định hợp tác-đấu tranh trong ngoại giao. Đồng thời trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau như hiện nay, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc còn cần dựa trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế.

Thứ hai là bài học về kết hợp nội lực với ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trước đây, ngoại giao "tâm công" đã huy động được sự ủng hộ vô cùng to lớn cả về vật chất và tinh thần của nhân loại tiến bộ. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, ngoại giao "phục vụ phát triển" phải huy động các điều kiện, nguồn lực thuận lợi bên ngoài như các xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, sự đồng thuận trong kiến tạo, củng cố thế giới đa cực, đa trung tâm, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế; các xu thế phát triển mới đang định hình thế giới như kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và đặc biệt là những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra cơ hội đột phá mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn… Trong đó ngoại giao có nhiệm vụ tiên phong khơi thông hợp tác với các quốc gia, tập đoàn hàng đầu; khai mở nguồn vốn, nguồn tri thức từ các trung tâm đổi mới sáng tạo; nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu…

Thứ ba việc đặt đối ngoại vào vai trò, vị trí "trọng yếu, thường xuyên, tiên phong" trong bảo vệ những lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong chiến tranh, Đảng ta đã có quyết sách chiến lược là xác định đối ngoại là một "mặt trận" cùng với chính trị và quân sự. Trong giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, cạnh tranh, xung đột gia tăng, Đảng ta đã xác định cùng với quốc phòng và an ninh, đối ngoại phải đóng vai trò "trọng yếu, thường xuyên" trong bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ, tạo dựng cục diện quốc tế hòa bình, ổn định, thuận lợi, tranh thủ các nguồn lực và điều kiện phục vụ phát triển đất nước. Đặc biệt, ngoại giao phải nâng tầm, làm sâu sắc hơn khuôn khổ quan hệ với các đối tác để mở ra không gian an ninh và phát triển mới cho đất nước.

Thứ tư là bài học về hội nhập với thế giới, đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại. Trước kia hội nhập là gắn dân tộc với 3 dòng thác cách mạng, với sự nghiệp chung của các nước xã hội chủ nghĩa; ngày nay là hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, đầy đủ, đưa hội nhập quốc tế trở thành động lực cho phát triển. Theo đó thực hiện thành công Nghị quyết 59/NQ-TƯ vừa qua về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, cùng với Nghị quyết 18 về tổ chức, sắp xếp bộ máy và Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là "bộ ba chiến lược" của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới này. Đặc biệt đưa hội nhập trở thành sự nghiệp của toàn dân, trở thành "văn hóa tự giác" của người dân, doanh nghiệp, địa phương. Đây cũng chính là "chủ thể, lực lượng chủ công và đối tượng thụ hưởng" các lợi ích của hội nhập quốc tế.

Kế thừa truyền thống của các thế hệ cha anh, ngoại giao ngày nay đã tạo dựng cục diện đối ngoại thuận lợi, rộng mở cho bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, tạo lập khuôn khổ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với với 34 nước, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế, từ hội nhập kinh tế đơn thuần chuyển sang hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với lợi ích của ta cũng như đóng góp thiết thực, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của thế giới.

Trong mỗi chiến thắng vĩ đại của dân tộc đều có sự đóng góp của ngoại giao. Trong kỷ nguyên giải phóng dân tộc, ngoại giao đã trở thành một mặt trận, góp phần vào thắng lợi vĩ đại mùa Xuân 1975. Trong kỷ nguyên đổi mới, ngoại giao đã tiên phong phá thế bao vây cấm vận, đưa đất nước hội nhập quốc tế mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Với tư tưởng vượt thời gian, những bài học trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục soi đường cho ngoại giao bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh của dân tộc. Ngoại giao sẽ tiếp tục nỗ lực để phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trong bối cảnh mới./.

Xem thêm

Tài trợ lên đến 3 tỷ đồng cho các dự án ứng dụng trí tuệ nhân tạo: NATIF chính thức nhận hồ sơ năm 2026

Tài trợ lên đến 3 tỷ đồng cho các dự án ứng dụng trí tuệ nhân tạo: NATIF chính thức nhận hồ sơ năm 2026

(CLO) Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) vừa phát đi thông báo quan trọng về việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị tài trợ nhiệm vụ đổi mới công nghệ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) năm 2026. Với mức tài trợ từ ngân sách nhà nước lên đến 3 tỷ đồng cho mỗi dự án.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc chỉ đạo điều tra, xử lý vụ cháy nhà tại phố Thụy Khuê

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc chỉ đạo điều tra, xử lý vụ cháy nhà tại phố Thụy Khuê

(CLO) Về vụ cháy nhà dân tại số 2B ngách 264/2 phố Thụy Khuê (phường Tây Hồ, thành phố Hà Nội), Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Công an khẩn trương điều tra nguyên nhân vụ cháy, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan, xử lý nghiêm vi phạm (nếu có) theo quy định.

Lạng Sơn dự kiến đầu tư hơn 2.251 tỷ đồng cho 747 dự án chương trình MTQG giai đoạn 2026-2030

Lạng Sơn dự kiến đầu tư hơn 2.251 tỷ đồng cho 747 dự án chương trình MTQG giai đoạn 2026-2030

(CLO) Trong 5 năm tới (2026 - 2030), tỉnh Lạng Sơn dự kiến dành hơn 2.251 tỷ đồng để làm mới và sửa chữa 747 công trình ở cấp xã. Số tiền này chủ yếu dùng để làm đường giao thông, xây trường học, trạm y tế và hệ thống nước sạch, giúp bà con vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh hoạt và đi lại thuận tiện hơn.

Điện Biên: Khi người trẻ hóa thân thành 'cầu nối' đưa công nghệ số chạm đến từng người dân

Điện Biên: Khi người trẻ hóa thân thành 'cầu nối' đưa công nghệ số chạm đến từng người dân

(CLO) Chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi người dân làm chủ được công nghệ. Tại Điện Biên, các đội hình "Bình dân học vụ số" của lực lượng thanh niên đang trở thành "cầu nối" đắc lực, tận tình hướng dẫn bà con vùng cao sử dụng VNeID, dịch vụ công và thanh toán điện tử, đưa tiện ích số thấm sâu vào nhịp sống thường ngày.

Các địa phương của Việt Nam và Quảng Tây cần chuyển mạnh từ giao thương đơn thuần sang liên kết kinh tế sâu rộng

Các địa phương của Việt Nam và Quảng Tây cần chuyển mạnh từ giao thương đơn thuần sang liên kết kinh tế sâu rộng

(CLO)  Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đề nghị Quảng Tây và các địa phương của Việt Nam thắt chặt hơn nữa tình cảm hữu nghị, triển khai tốt các cơ chế hợp tác đã có, mở rộng hợp tác với các địa phương tiềm năng khác của hai bên; đi đầu trong hiện thực hóa nhận thức chung cấp cao về chuyển mạnh từ giao thương đơn thuần sang thúc đẩy liên kết kinh tế sâu rộng.

Xử lý dứt điểm vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án nhiệt điện đồng bằng sông Cửu Long

Xử lý dứt điểm vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án nhiệt điện đồng bằng sông Cửu Long

(CLO) Theo văn bản số 487/TB-VPCP do Văn phòng Chính phủ phát đi thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại chuyến kiểm tra và làm việc về tình hình triển khai các dự án trọng điểm về giao thông và năng lượng tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu xử lý dứt điểm vướng mắc, bảo đảm tiến độ các dự án nhiệt điện.

Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, kiến tạo động lực phát triển

Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, kiến tạo động lực phát triển

(CLO) Sáng 16/9, tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã trao đổi và truyền đạt chuyên đề “Đổi mới tư duy xây dựng thể chế, pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, chuyển hóa thể chế thành lợi thế cạnh tranh và năng lực thực thi quốc gia" với các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV (lớp thứ hai).

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Quy hoạch lâm nghiệp phải giải quyết thực chất sinh kế, để đời sống người giữ rừng tốt hơn

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Quy hoạch lâm nghiệp phải giải quyết thực chất sinh kế, để đời sống người giữ rừng tốt hơn

(CLO) Chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh quy hoạch phát triển phải giải quyết thực chất sinh kế để đời sống người giữ rừng tốt hơn.

Sạt lở nghiêm trọng tuyến đường bao Ngòi Lạt, xã Tu Vũ khẩn trương di dời các hộ dân để đảm bảo an toàn

Sạt lở nghiêm trọng tuyến đường bao Ngòi Lạt, xã Tu Vũ khẩn trương di dời các hộ dân để đảm bảo an toàn

(CLO) Những ngày qua, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão, mưa lớn kéo dài đã gây ra sạt lở nghiêm trọng trên tuyến đường bao Ngòi Lạt, thuộc địa bàn xã Tu Vũ, tỉnh Phú Thọ. Tình trạng sạt lở diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn giao thông và cuộc sống của nhiều hộ dân quanh vùng.

'Cởi trói' tiến độ dự án đường sắt: Cho phép làm đồng thời nhiều hạng mục, bổ sung chi phí phát sinh

'Cởi trói' tiến độ dự án đường sắt: Cho phép làm đồng thời nhiều hạng mục, bổ sung chi phí phát sinh

(CLO) Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 352/2026/NĐ-CP cho phép các dự án đường sắt được triển khai song song, đồng thời nhiều nội dung công việc. Đáng chú ý, cơ chế đặc thù mới cũng mở đường cho việc cấp thẩm quyền phê duyệt bổ sung kịp thời các chi phí phát sinh do điều chỉnh kỹ thuật chỉ trong vòng 20 ngày làm việc, giúp các chủ đầu tư chủ động tăng tốc mà không lo ách tắc dòng vốn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân chủ trì tiệc chiêu đãi Nhà vua Vương quốc Thái Lan và Hoàng hậu

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân chủ trì tiệc chiêu đãi Nhà vua Vương quốc Thái Lan và Hoàng hậu

(CLO) Tối 15/9, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân đã chủ trì chiêu đãi trọng thể Nhà vua Vương quốc Thái Lan Maha Vajiralongkorn Phra Vajiraklaochaoyuhua và Hoàng hậu cùng Đoàn đại biểu Hoàng gia Thái Lan đang có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam, từ ngày 14 - 16/9/2026.

Cỡ chữ bài viết: