Điều chỉnh kích thước chữ

Người ở lại

(CLO) Biên giới Hà Giang bị xâm lược và khai hỏa, họ vốn là những thanh niên phơi phới tuổi xuân. Vì quê hương, vì đất nước, vì phên dậu của tiền tiêu, không nề hà, họ tòng quân, cầm súng để lên với những điểm cao, các vị trí xung yếu và giờ họ là những người tiêu biểu trong thời bình.

Báo nói Công luận

Vươn lên trong thời bình

Mảnh đất chiến địa Hà Giang đã hồi sinh như nơi đây chưa từng xẩy ra cuộc chiến (Ảnh Đơn Thương)

Mảnh đất chiến địa Hà Giang đã hồi sinh như nơi đây chưa từng xẩy ra cuộc chiến (Ảnh Đơn Thương)

3 năm “đỏ lửa vùng biên”, họ trở về, mang trên mình những thương tật. Không để ngái lòng với đồng đội ngã xuống, không để phụ lòng với mảnh đất tiền tiêu một thời pháo đạn cày xới, chẳng chút ta thán, họ lại lao vào với “trận chiến đời thường” hàn gắn vết thương, vươn lên, góp sức để mảnh đất chiến địa một thời được hồi sinh

Năm 1979, với chủ trương “dậy cho Việt Nam” một bài học, bên kia biên giới bắt đầu gây hấn, tổ chức đánh chiếm các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lai Châu… Tuy nhiên, với ý chí và lòng yêu tổ quốc của mình, người Việt Nam đã nhất tề đứng dậy và làm suy yếu những ý muốn của quân địch.

Sau chủ trương “dậy” và “dọa” này không thành hiện thực, với một lực lượng lớn được huy động, bên kia biên giới, pháo địch lại khai hỏa, để mở màn cho cái gọi là Chiến trận Hà Tuyên. Đất nước lại lâm nạn binh đao, để giữ vững vùng phên dậu,  với các điểm cao như 1.509, Bình độ 300, Đồi Đài…, trước lời kêu gọi, hàng nghìn thanh niên trai trẻ, trong đó có những người con dấu yêu của mảnh đất Hà Tuyên (nay là Tuyên Quang và Hà Giang) lại nô nước lên đường.

May mắn hơn những người đã vĩnh viễn nằm lại ấy, đã một thời tận mắt chứng kiến đau thương, những người trở về, tuy không lành lặn, nhưng họ vẫn giữ trong mình một ý chí. Vượt khó, vượt bệnh để vươn lên, để giữ trong mình một phẩm chất sống. Và cuộc sống cùng sự vươn lên của họ như một minh chứng đến khó tưởng trên vùng đất chiến địa một thời này.

Hà Giang, đặc biệt là những huyện chiến địa một thời như Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Xín Mần vốn “nằm dựa lưng” vào đỉnh Tây Côn Lĩnh – Mái nhà của vùng Đông Bắc nước. Do tính chất địa lý, hứng gió và mây nên mùa này quằn quại mưa lạnh. Vượt gió và mưa cùng chặng đường dài chúng tôi tìm về với Bắc Quang, tới với thương binh hạng ¼ có tên Phùng Quốc Phòng.

Mưa, sương, ẩm, lạnh luôn đem đến cho người bình thường một cảm giác mệt mỏi, tuy nhiên với thương binh Phùng Quốc Phòng lại không vậy. Cơn mưa rừng vừa tạnh, khi chúng tôi tìm đến, ông Phòng đã đang lách cách cùng dao, cuốc ngoài khu vườn bát ngát màu xanh.

Năm 1980, ông Phùng nhập ngũ. Với chí hướng đã là người, ở đâu cũng phải phấn đấu, vậy nên 4 năm sau, từ anh lính lèng mèng ông đã trở thành thiếu úy, trung đội trưởng chiến đấu bảo vệ vùng biên ở một trong những huyện biên giới trọng điểm là Xín Mần.

Địch khai hỏa mạnh, cánh lính của ông đươc lệnh bám sát biên cương. Ông đã hoen lệ và thêm ý chí chiến đấu khi thấy Thị trấn Cốc Pài ngày đêm bị pháo địch không kích, tan nát cùng sự cuộn dòng của con sông Chảy nơi thượng nguồn thơ mộng một thời.

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, may mắn đã không đến với ông khi lòng căm hờn giặc còn ngút ngàn. Ông đã bị thương nặng trong một luần tuần tra, thị sát vùng biên. Chiếc chân trái cùng một mắt của ông đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến địa.

Sau nhiều năm nằm điều trị tại quân y viện, ông trở về, với mức độ thương tật ¼ và tìm về thôn Thanh Bình (Việt Quang, Bắc Quang) làm nơi định cư cho mình. Mệt mỏi, chán chường, mông lung lại thêm vết thương nhiều lúc trái gió trở trời tái phát nên nhiều khi ông nản lắm.

Tuy nhiên, sau đó, nghĩ tới những đồng đội thân yêu, không may mắn, mãi nằm lại nơi biên giới đèo heo hút gió nên ông đã đánh thức trong mình một nghị lực. Phải sống, vươn lên là ý chí được tôi đúc sau những năm tháng trở về của ông.

Vượt nên đau yếu, bệnh tật, ông lao vào vườn rừng, làm kinh tế trang trại. Cây được trồng xuống, gà ngan được mua về từ những đồng tiền chế độ thương tật tích cóp. Công việc cắt cử, không nề hà, với bàn chân tập tễnh ông cũng lên rừng, xuống ruộng.

Trời không phụ lòng ông, cây trái nhanh chóng tốt tươi, gà ngan lớn thôi thổi, ông lại có vốn. Từ một quy mô làm ăn nhỏ lẻ, một mô hình trang trại đã được ông dựng lên. Ông đi tiếp vào mô hình chăn nuôi thủy sản và cũng lại gặt hái được thành công.

Nhờ sự lao tâm, khổ tứ này, từ một người được coi là “tàn” nhưng nay ông đã nổi tiếng là một người có nhà cửa khang trang, có tiền cho con cái ăn học đàng hoàng.

Hồi sinh cho đất và người

Thế hệ thứ 3 trên “Chảo lửa chiến tranh” Vị Xuyên (Ảnh Đơn Thương)

Thế hệ thứ 3 trên “Chảo lửa chiến tranh” Vị Xuyên (Ảnh Đơn Thương)

Tại vùng chiến địa Hà Giang, nói về gương thương binh vươn lên trong thời bình, ít ai không nhắc đến ông Trần Văn Thư, Việt Thành (Việt Lâm, Vị Xuyên). Cũng đến với chiến tranh, trở thành lính khi địch khai hỏa tấn công miền phên dậu. Sau bao lần di chuyển, tăng cường quân, hỗ trợ cho các điểm cao, may mắn hơn những đồng đội còn sống, ông Thư trở về, không lành lặn vì bị 3 mảnh đạn cối găm vào người, thương tật được xác định với hạng 4/4.

Trước đồi chè ngút ngát xanh, búp đang kì chính vụ đơm ngọn tua tủa, ông Thư tâm sự: Ngày tôi trở về, vốn là miền đất nơi chiến địa, nên đất đai hoang cằn lắm. Tôi nghĩ, từ đất mà đi, nay trở về với quê hương, trước sự tàn phá của chiến tranh, mình cũng phải góp sức xây dựng lại.

Không nề hà, ông lao vào cải tạo đồng đất, quyết định lấy cây chè – cây kinh tế chủ lực của đất này để phát triển kinh tế. 2ha đất hoang được khai phá, đào luống và tra hạt. Thêm nữa, một diện tích lớn đất hoang cũng được ông khai phá, trồng cây ăn quả, mùa nào thức ấy.

Từ một mảnh đất cằn, từ một tấm thân thương binh bệnh tật, nay nguồn thu từ vườn đồi, mỗi năm ông đã có thu nhập tới gần 100 triệu. Số tiền này đủ để ông nuôi dậy con cái và kiến thiết nhà cửa.

Hiện tại, mảnh đất địa đầu, nơi đã xẩy ra cuộc chiến với cái tên mãi đi vào lịch sử Chiến trận Hà Tuyên này có 24.000 Hội viên Hội cựu chiến binh, trong đó có trên 1.000 người là thương bệnh binh. Theo ông Thiều Đức Bốn – Trưởng phòng LĐTB&XH Vị Xuyên – nơi được coi là “Chảo lửa chiến tranh” thì trên địa bàn huyện có tới 827 gia đình chính sách và 560 đối tượng được hưởng trợ cấp hàng tháng.

“Chiến tranh là điều tồi tệ không ai muốn nó xảy ra. Ngay trên mảnh đất chiến địa này thôi, nếu ai đã từng sống, đã từng trải qua mới thấy hậu họa và sự khắc phục nó đến mức khủng khiếp thế nào. Nhưng bằng nghị lực, bằng sự quan tâm, trong đó có sự góp sức không nhỏ của các thương bệnh binh, đất này đã hồi sinh như các anh đã từng thấy” – như một sự chiêm nghiệm, ông Bốn tâm sự.

Hơn 30 năm có lẻ, nếu ai có lần đặt chân lên Hà Giang mà cụ thể là “Chảo lửa chiến tranh” như Vị Xuyên, khó có thể hình dung chiến tranh đã xảy ra và đem đau thương cho vùng phên dậu này. Nhà cửa được dựng xây, cây cối đã chen chân vươn tán trên những hố pháo, bãi mìn.

Tôi lại đi qua các điểm cao một thời như 1.509, hang Làng Pinh, làng Lò, Thác gọi hồn… Qua những mảnh đất tan tành vì pháo kích từ bên kia biên giới như Lao Chải, Xín Chải, Thanh Đức, Minh Tân… Đã gặp gỡ và chứng kiến những tấm gương thương bệnh binh đang ngày đêm cùng người dân vươn lên để hàn gắn những vết thương của người và đất giữa đời thường. Và hy vọng rằng chiến tranh sẽ không xẩy ra, tin cả vào nghị lực của người Việt, trong đó có người Hà Giang với cuộc chiến và trong cả thời bình!

Đức Tuyền