Chiều 4/8, tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ đối với Dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Theo các đại biểu, đây là dự thảo Nghị quyết có tính chất đặc thù, tác động trực tiếp đến cơ chế xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là có cơ chế tháo gỡ, mà còn phải bảo đảm chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, rõ ràng về điều kiện áp dụng và minh bạch về hệ quả pháp lý.
Đại biểu Mai Thị Phương Hoa (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) khẳng định việc Quốc hội cho ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết rất quan trọng, rất kịp thời nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng liên quan đến xử lý vấn đề liên quan kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân. Theo bà, Nghị quyết này cần được ban hành sớm để giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các địa phương, các bộ ngành, tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực phát triển đất nước.
Góp ý quy định về phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị quyết, đại biểu Mai Thị Phương Hoa cho biết phạm vi điều chỉnh liên quan đến ba lĩnh vực là kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tuy nhiên, đại biểu băn khoăn về cụm từ “ứng dụng” trong nhóm lĩnh vực ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung. Bởi theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có 9 nhóm, "ứng dụng" chỉ là một trong số này. Dự thảo Nghị quyết chỉ điều chỉnh nhóm ứng dụng thì chưa đủ rộng, bao quát.
Để đảm bảo đồng bộ và thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo hơn nữa, đại biểu đề nghị ngoài việc ứng dụng, cũng cần mở rộng ra hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm.
Về nguyên tắc thực hiện, tại Điều 3, dự thảo Nghị quyết quy định khuyến khích bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Đại biểu cho rằng quy định này đã cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, nhưng đặt trong bối cảnh chúng ta đang khuyến khích kinh tế tư nhân, liệu có được áp dụng cơ chế chính sách đặc thù đối với khu vực tư nhân hay không?...
Nêu quan điểm, đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) cho biết Điều 4 dự thảo Nghị quyết sử dụng nhiều khái niệm rất quan trọng nhưng còn mang tính mở như “vì lợi ích chung”, “không tham nhũng”, “hậu quả thiệt hại”, “hiệu quả kinh tế - xã hội”, “không có khiếu nại, tố cáo”.
Đây đều là những khái niệm có ý nghĩa chính sách, nhưng nếu chưa được lượng hóa thì các cơ quan, các địa phương rất dễ áp dụng khác nhau, thậm chí ngay cả khi các vụ việc có tính chất tương tự.
Về kỹ thuật lập pháp, quy định nào càng dẫn đến hệ quả pháp lý nghiêm trọng thì càng phải có tiêu chí rõ. Nếu chỉ mô tả bằng ngôn ngữ định hướng rồi giao cho các cơ quan thực thi tự hiểu, thì sẽ làm giảm tính dự báo của pháp luật và dễ phát sinh cách hiểu tùy nghi.
Từ phân tích trên, đại biểu đề nghị Điều 4 cần được chỉnh theo hướng bổ sung thêm các tiêu chí nhận diện tối thiểu. Chẳng hạn, “vì lợi ích chung” phải được hiểu là hành vi được thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, vì phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị, của doanh nghiệp, vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, không nhằm thu lợi cá nhân, không làm phát sinh lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi; có căn cứ, có hồ sơ và có thể kiểm tra, đối chiếu được.
Tương tự, các từ ngữ khác cũng cần được xác định theo dấu hiệu pháp lý cụ thể. Đại biểu cho rằng nếu lượng hóa Điều 4 cụ thể hơn thì toàn bộ các điều sau của Nghị quyết sẽ vận hành thống nhất và thuận lợi hơn.
Đại biểu cũng đề nghị sửa Điều 5 dự thảo Nghị quyết theo hướng bỏ điều kiện “người thực hiện hành vi vi phạm đã khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và xử lý tội phạm”. Theo đại biểu, điều kiện này không thật sự phù hợp với bản chất của chính sách mà Nghị quyết đang hướng tới.
Đại biểu Lê Văn Thế phân tích: Tinh thần của Nghị quyết là khuyến khích, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, trong điều kiện có rủi ro khách quan và có thiện chí thực hiện nhiệm vụ. Còn việc người vi phạm khai báo, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng là nội dung đã được pháp luật hình sự và tố tụng hình sự điều chỉnh bằng các chế định riêng; không nên đưa trở lại như một điều kiện bắt buộc để được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu giữ quy định này, chính sách của Nghị quyết có nguy cơ sẽ bị dịch chuyển từ cơ chế bảo vệ người đổi mới, dám nghĩ, dám làm sang cơ chế thưởng cho việc hợp tác sau khi vi phạm đã bị phát hiện. Đề nghị bỏ khoản 6 Điều 5, đại biểu cho rằng Điều này chỉ nên tập trung vào các điều kiện cốt lõi như: không tham nhũng; vì lợi ích chung; đã hoàn thành hoạt động và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm; không gây thất thoát, lãng phí hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
Về trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cam kết, tiến độ khắc phục hậu quả, khoản 5 Điều 9 dự thảo nghị quyết quy định: “Trong thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cam kết, tiến độ khắc phục hậu quả của tổ chức, cá nhân được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Đề xuất giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể điều này, đại biểu cho rằng việc quy định cụ thể nhằm tránh tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng “bỏ quên” vụ việc sau khi ra quyết định tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự. Cùng với đó, theo dõi sát sao, kịp thời phát hiện việc trì hoãn hoặc có hành vi tẩu tán tài sản, bỏ trốn, đồng thời cũng thúc đẩy cá nhân, tổ chức tích cực hoàn thành cam kết để nhận được sự khoan hồng của pháp luật.