“Rất lãng phí. Chúng ta nghe rất nhiều câu chuyện học xong đại học rồi quay lại học nghề để kiếm được việc làm. Đó là một thực tế”, Phó Thủ tướng nói khi đề cập những điểm nghẽn của giáo dục đại học.
Không thể đào tạo hôm nay cho việc làm của hôm qua
Dự báo nhân lực không thể chỉ nhìn vào nhu cầu tuyển dụng trước mắt mà phải có tầm nhìn 5-20 năm. Các trường đại học và cơ quan quản lý cần trả lời được câu hỏi: Một sinh viên bắt đầu học hôm nay, sau 4 năm tốt nghiệp thì thị trường lao động khi đó cần gì?
Bài toán này càng cấp thiết trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang thay đổi nhanh chóng cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh và thay thế một phần những công việc trước đây vốn do con người đảm nhiệm. Nhiều quốc gia đã chủ động điều chỉnh cơ cấu đào tạo để thích ứng với thay đổi của nền kinh tế. Trung Quốc là một ví dụ khi rà soát, loại bỏ hàng nghìn ngành học lỗi thời và bổ sung các lĩnh vực đào tạo mới phù hợp nhu cầu phát triển.
“Chúng ta cũng cần rà soát lại”, Phó Thủ tướng nói, đồng thời đề nghị nâng cao năng lực dự báo nhu cầu nhân lực để làm căn cứ điều chỉnh quy mô và cơ cấu đào tạo.
Những lĩnh vực được xác định có nhu cầu lớn trong 10-20 năm tới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện hạt nhân, đường sắt cần được tập trung nguồn lực đào tạo.
“Nếu các trường không chủ động đổi mới thì rất dễ rơi vào tình trạng đào tạo hôm nay cho yêu cầu của ngày hôm qua”, ông Châu cảnh báo.
Cả nước hiện có hơn 2,5 triệu sinh viên cùng hơn 200.000 học viên cao học, nghiên cứu sinh, học tập trong một hệ thống gồm hàng chục nghìn ngành, chương trình đào tạo. Quy mô lớn khiến việc điều chỉnh cơ cấu ngành học không đơn giản, nhưng theo Phó Thủ tướng đây là việc không thể trì hoãn nếu giáo dục đại học muốn đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Bốn năm đại học, hàng trăm triệu đồng và một tấm bằng
ThS, NCS Lê Hoài Việt, giảng viên Trường Đại học Mở TP. HCM, Thành viên Hội đồng Tư vấn và Hỗ trợ khởi nghiệp Quốc gia phía Nam cho rằng câu chuyện cử nhân sau bốn năm đại học phải quay lại học nghề phản ánh sự lãng phí lớn về thời gian, tiền bạc và cơ hội của người trẻ.
“Chứng kiến những người trẻ dành trọn bốn năm thanh xuân, tiêu tốn hàng trăm triệu đồng tiền tích lũy của gia đình rồi phải nộp hồ sơ vào trường nghề để tìm kiếm việc làm, bất kỳ người làm giáo dục nào cũng cảm thấy trăn trở và xót xa”, ông Việt nói.
Theo ông, sự lệch pha giữa đào tạo và thị trường lao động thể hiện ở ít nhất ba khâu.
Thứ nhất là xác định chuẩn đầu ra và cập nhật chương trình. Trong khi công nghệ và mô hình kinh doanh thay đổi nhanh, quá trình xây dựng, thẩm định và điều chỉnh chương trình đào tạo có thể kéo dài nhiều năm. Nếu thiếu cơ chế cập nhật thường xuyên, sinh viên có thể tốt nghiệp với những kiến thức không còn sát với nhu cầu của doanh nghiệp.
Thứ hai là cách đánh giá năng lực. Nhiều cơ sở đào tạo vẫn nặng về kiểm tra khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức qua các bài thi truyền thống, trong khi thị trường lao động đòi hỏi tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề, sáng tạo và thích ứng.
Thứ ba là trải nghiệm thực tiễn. Một số trường đã đưa sinh viên tiếp cận doanh nghiệp từ sớm, nhưng tại không ít nơi, thực tập vẫn chủ yếu được bố trí vào kỳ cuối, khiến sinh viên thiếu cơ hội va chạm với công việc thực tế trong phần lớn thời gian học.
Ngành ít việc làm nên đóng hay chuyển đổi?
“Sự lệch pha giữa đào tạo và thị trường lao động không chỉ là trách nhiệm của nhà trường”, ông Việt thẳng thắn chia sẻ.
Do đó, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo thay vì chỉ tuyển người sau khi sinh viên tốt nghiệp. Người học và phụ huynh cũng cần thay đổi tâm lý quá coi trọng bằng cấp, chú trọng hơn đến năng lực nghề nghiệp thực chất.
Tuy nhiên, cập nhật đào tạo không có nghĩa đại học phải chạy theo từng công nghệ hay vị trí việc làm nhất thời.
“Giáo dục đại học khác với các khóa đào tạo nghề ngắn hạn ở chỗ sứ mệnh cốt lõi của trường đại học là xây dựng nền tảng tư duy và năng lực tự học suốt đời”, ông Việt cho biết thêm.
Thay vì chờ chương trình trở nên lỗi thời mới đóng ngành, ông Việt mong muốn các trường có thể cập nhật từng học phần, phương pháp giảng dạy và nội dung thực hành; đưa tình huống doanh nghiệp vào bài tập, tăng dự án thực tế và tận dụng học phần tự chọn để sinh viên tiếp cận công nghệ mới. Hội đồng cố vấn nghề nghiệp cũng cần có sự tham gia thực chất của doanh nghiệp và chuyên gia, qua đó giúp trường thường xuyên nắm bắt những kỹ năng thị trường đang cần.
Với những ngành suy giảm nhu cầu xã hội, ông Việt cho rằng không nên vội đóng ngành chỉ vì tuyển sinh giảm. Trường cần xem xét tái cấu trúc, kết hợp nền tảng ngành cũ với dữ liệu, AI, thương mại điện tử hoặc lĩnh vực mới, đồng thời đào tạo lại giảng viên. Chỉ khi nhu cầu xã hội thực sự cạn kiệt và không còn khả năng chuyển đổi, trường mới nên tạm dừng tuyển sinh. Đây là cách bảo vệ người học, tránh đào tạo vào những lĩnh vực ngày càng ít cơ hội việc làm.
Để chuyển từ tư duy chạy theo quy mô sang chú trọng chất lượng, cần giải quyết cả bài toán tài chính đại học. Khi nguồn thu của nhiều trường vẫn phụ thuộc đáng kể vào quy mô người học, việc duy trì tuyển sinh trở thành nhu cầu thực tế.
Ông Việt đề xuất Nhà nước cần tăng cơ chế đặt hàng đào tạo, giao nhiệm vụ và tài trợ nghiên cứu ở những lĩnh vực chiến lược. Việc phân bổ nguồn lực có thể gắn với những kết quả đầu ra như tỷ lệ sinh viên có việc làm phù hợp, chất lượng nghiên cứu, khả năng chuyển giao công nghệ và đóng góp cho xã hội.
Doanh nghiệp cũng cần trở thành một chủ thể thực sự trong quá trình này, từ tham gia xây dựng chương trình, cung cấp dữ liệu, cử chuyên gia giảng dạy đến đầu tư cho phòng thí nghiệm, nghiên cứu và đào tạo nhân lực.
Một nền tảng quan trọng khác là xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia đủ mở và tin cậy, liên thông dữ liệu về việc làm, bảo hiểm xã hội, văn bằng và thu nhập.
“Khi có dữ liệu về việc sinh viên tốt nghiệp ngành nào làm việc ở đâu, thu nhập ra sao và doanh nghiệp đang cần kỹ năng gì, cơ quan quản lý mới có căn cứ điều tiết quy mô đào tạo; các trường có cơ sở điều chỉnh chương trình; còn học sinh, sinh viên và phụ huynh có thêm thông tin để lựa chọn ngành nghề”, ông Việt nhấn mạnh.