Những chính sách đột phá mới khi xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế
Xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế là vấn đề được Việt Nam xác định là một trong những đột phá về thể chế, là quyết sách nhằm giải phóng các nguồn lực, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, để nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Trước thực tế này, ngày 21/12, tại Văn phòng Chính phủ, Hội nghị Công bố thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam đã diễn ra dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.
Tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh việc Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam đang từng bước triển khai, cùng sự phối hợp của hai thành phố trên cơ sở bổ trợ mà không cạnh tranh lẫn nhau, sự thành công của hai địa phương sẽ đưa Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam bứt phá, hướng tới trở thành Trung tâm tài chính hàng đầu trên thị trường tài chính toàn cầu.
“Với sự đồng lòng, đồng hướng và đồng tâm, Việt Nam đã triển khai từng bước, vừa làm vừa rút kinh nghiệm; với tinh thần không nóng vội nhưng cũng không cầu toàn để bỏ lỡ thời cơ”,Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định.
Trước đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 323/2025/NĐ-CP về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Nghị định nêu rõ, Trung tâm tài chính quốc tế là một thực thể pháp lý thống nhất, hoạt động tại hai địa điểm là TP HCM và Thành phố Đà Nẵng.
Quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế do Hội đồng điều hành Trung tâm tài chính quốc tế phê duyệt, có hiệu lực chung và áp dụng thống nhất tại hai địa điểm.
Tất cả chuẩn mực, quy chế, quy trình, quy tắc, biểu mẫu nghiệp vụ và tiêu chuẩn cấp phép trong Trung tâm tài chính quốc tế được ban hành thống nhất và áp dụng đồng thời tại hai địa điểm.
Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP HCM định hướng phát triển trở thành Trung tâm tài chính quốc tế có hệ sinh thái tài chính toàn diện và đa dạng.
Cụ thể, Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP HCM sẽ cung cấp các dịch vụ tài chính truyền thống và chuyên sâu, khai thác tác động cộng hưởng, tương hỗ của các dịch vụ tài chính như: huy động vốn, đầu tư, thanh toán, phát hành và giao dịch sản phẩm tài chính, quản lý tài sản, dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ (fintech), dịch vụ tài chính xanh và các dịch vụ tài chính khác.
Trong khi đó, Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Đà Nẵng định hướng phát triển trở thành Trung tâm tài chính quốc tế hiện đại, gắn kết chặt chẽ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, công nghệ số và tài chính bền vững, tạo nền tảng thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình tài chính mới,...
“Cửa thắng” nào cho Trung tâm Tài chính quốc tế mới tại Việt Nam?
Nhận định về triển vọng của các Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam, PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế cho rằng: Việt Nam hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành các Trung tâm Tài chính quốc tế.
Theo đó, nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam tương đối ổn định, lạm phát được kiểm soát, nợ công ở mức an toàn, tăng trưởng kinh tế duy trì ổn định trong nhiều năm. Bên cạnh đó, quy mô nền kinh tế và dân số lớn cũng tạo dư địa đáng kể cho sự phát triển của các dịch vụ tài chính.
Đặc biệt, động lực cải cách mạnh mẽ từ Trung ương, thể hiện qua quyết tâm hoàn thiện thể chế và môi trường đầu tư, được xem là yếu tố quan trọng thúc đẩy Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu này.
“Mặc dù Việt Nam đang đi sau, nhưng đi đúng thời điểm khi mô hình Trung tâm Tài chính quốc tế thế hệ mới không chỉ phụ thuộc vào vốn, mà dựa trên đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu và tài chính xanh”, ông nói.
Trong bối cảnh đó, để cạnh tranh được với những Trung tâm Tài chính quốc tế khác, để Việt Nam có “cửa thắng” thì phụ thuộc vào yếu tố rất quan trọng đó là tốc độ và chất lượng cải cách.
“Trung tâm Tài chính quốc tế muốn thành công thì không chỉ dựa trên khẩu hiệu, mà phải dựa trên 4 yếu tố quyết định”, ông Long chia sẻ.
Yếu tố thứ nhất là khung pháp lý, phải ổn định, linh hoạt, thân thiện. Singapore là một ví dụ thành công, vì có hệ thống pháp luật có thể dự đoán và đáng tin cậy.
Yếu tố thứ hai đó là nền tảng hạ tầng số và dữ liệu mở. Trung tâm Tài chính quốc tế thế hệ mới cạnh tranh bằng độ mở dữ liệu, tốc độ giao dịch, an toàn thông tin. Với chiến lược chuyển đổi số quốc gia, Việt Nam có lợi thế nhưng cần đi nhanh, phải đến tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế về nhân lực và tài chính.
Nhân tài là yếu tố vô cùng quan trọng, Việt Nam cần có các chính sách để thu hút nhân tài, chuyên gia về làm việc tại trung tâm.
Yếu tố tiếp theo là môi trường thuế. Các trung tâm như Singapore, Dubai, Iceland đều hấp dẫn nhờ có thuế thu nhập doanh nghiệp từ 5-10% cho các ngành tài chính, fintech, quản lý tài sản….
“Theo tôi hiện tại Việt Nam có mức thuế cao hơn so với mức thuế chuẩn của Trung tâm Tài chính quốc tế, nếu không cải cách rất khó cạnh tranh”, ông Long chia sẻ.
Ông Long dự báo khả năng cạnh tranh của Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam theo 2 kịch bản.
Kịch bản thứ nhất là kịch bản tích cực. Nếu cải cách đúng điểm, đúng thời gian, đúng cường độ và trong 12 tháng tới, Việt Nam hoàn thiện được gói chính sách đặc thù tương đương với Singapore, Dubai thì Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với các Trung tâm tài chính lớn khác trong khu vực.
“Các điểm cần cải thiện bao gồm vấn đề về thuế, hệ thống pháp luật, hệ thống giải quyết tranh chấp... thì trung tâm có thể cạnh tranh về các mảng quản lý tài sản, fintech, tài sản số….”, ông Long cho biết.
Kịch bản thứ 2 là kịch bản trung tính, khi Việt Nam cải cách chậm và thiếu đồng bộ. Ông Long nói nếu chúng ta chỉ dừng ở mức làm thí điểm, làm từng phần, thiếu đột phá về thể chế, đặc biệt là thiếu cơ chế pháp lý về thuế và phí thì Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam vẫn hình thành, vẫn có tác dụng với thị trường trong nước nhưng khó cạnh tranh với quốc tế.