Cần đột phá mạnh về cơ chế chính sách

Đúng như trăn trở của PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu - Phát triển TP.HCM: “Điều lo lắng nhất về trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM là làm sao có cơ chế chính sách đột phá, ưu đãi mạnh mẽ để thu hút được các “đại bàng”, làm cho những “đại bàng” đó tin tưởng đầu tư vào Thành phố thay vì các thị trường khác”.

Bài liên quan

Xây dựng TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế là công việc chung của Quốc gia

Phát triển TP. Hồ Chí Minh trở thành Trung tâm Tài chính Quốc tế: Biến “giấc mơ” 20 năm trở thành hiện thực

Đánh giá về lợi thế để phát triển trung tâm tài chính Quốc tế (TTTC) tại TP.HCM, ông Nguyễn Xuân Thành - Trường Chính sách công và quản lý Fulbright nhìn nhận: Hiện nay Tổ chức xếp hạng các trung tâm tài chính toàn cầu đã xác định, TP.HCM vốn đã là một TTTC thứ cấp. Tuy nhiên, những dịch vụ tài chính ở đây vẫn phục vụ thị trường tài chính và nền kinh tế nội địa nên bây giờ, chúng ta cần đẩy mạnh tính chất quốc tế của nó dựa trên những lợi thế sẵn có – trong đó cần thiết có sự đột phá mạnh về cơ chế, chính sách.

can dot pha manh ve co che chinh sach hinh 1

Chẳng hạn trong lĩnh vực fintech (công nghệ tài chính), TP.HCM có khoảng 200 doanh nghiệp fintech và nhiều ngân hàng, công ty chứng khoán nhưng thật sự chưa có tập đoàn tài chính do hạn chế về giấy phép nên không mở rộng được.

Theo đó, ông Thành đề xuất cần xây dựng khung pháp lý cho các định chế tài chính hoạt động theo mô hình tập đoàn tài chính. Ðây sẽ là chính sách đột phá hấp dẫn nhất, tạo điểm nhấn để thu hút các tập đoàn tài chính đến với thành phố.

Ở góc độ là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, TS. Trần Du Lịch chia sẻ: Quá trình xây dựng TTTC cần trải dài và phân kỳ, ban đầu là phát triển các nền tảng vững chắc của một TTTC quốc gia, sau đó trở thành TTTC khu vực, và tiến tới TTTC quốc tế và toàn cầu. Dù ở cấp độ nào, tầm nhìn của nó phải mang tầm nhìn toàn cầu. Theo đó, thành phố phải chọn cách phát triển chắc chắn nhưng phải có tính đột phá chính sách rất cao, nhằm thu hút được các quỹ đầu tư, định chế tài chính quốc tế đến đây phát triển.

TTTC cũng cần phải có thị trường hàng hóa phái sinh để chia sẻ rủi ro từ người sản xuất sang thị trường, đây là vai trò giao thương quốc tế quan trọng của thành phố. Nhưng chúng ta phải dựa trên sự phát triển công nghệ số để hình thành những sản phẩm mới, mạnh dạn áp dụng cơ chế thí điểm để tạo sức hút - ông Lịch nói.

Ở góc nhìn khác, ông Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cho rằng trong bối cảnh hiện nay có hai từ đang được dùng nhiều nhất nếu muốn phát triển, đó là tốc độ và sáng tạo. Với TTTC quốc tế tại TP.HCM lại càng thách thức, vì khoảng cách với thế giới quá xa về mức độ hội nhập, những tiêu chuẩn thông lệ, quy mô thị trường tài chính…

Theo đó, ông Thành đưa ra 5 vấn đề lớn về cách tiếp cận xây dựng TTTC quốc tế tại TP.HCM gồm:

Một là, thể chế đột phá vượt trội có khả năng cạnh tranh quốc tế, để trung tâm này có thể cạnh tranh với các trung tâm tại Hồng Kông, Singapore, Dubai… và trở thành một điểm đến cho các nhà đầu tư lựa chọn.

Hai là, lựa chọn mô hình TTTC mới chứ không phải theo cách truyền thống, tiếp cận ngay mô hình tài chính tích hợp gắn với đô thị hóa, các dịch vụ chất lượng cao.

Ba là, ngay từ đầu đã có những nhà đầu tư quan tâm Việt Nam. Điều kiện nhà đầu tư thế nào, lợi ích và trách nhiệm, cam kết nghĩa vụ của họ ra sao để tìm ra nhà đầu tư thật sự chất lượng.

Bốn là, khách hàng. Trong đó Ban soạn thảo kết hợp giữa nước ngoài với trong nước, vừa có tư tưởng tài chính tiền tệ kinh tế nhưng lại gắn với câu chuyện pháp lý rất chặt chẽ để làm đề án.

Năm là, cần có một văn bản pháp lý triển khai ngay đề án.

Cũng theo ông Thành, trong bối cảnh hiện nay cần thiết phải tư duy vượt khỏi khung khổ pháp lý hiện hành, phải đột phá để dự án TTTC quốc tế tại TP.HCM khả thi và triển khai được.

Đồng quan điểm trên, PGS.TS Trần Hoàng Ngân - Viện trưởng Viện Nghiên cứu - Phát triển TP.HCM, cũng cho rằng: Điều lo lắng nhất về TTTC quốc tế tại TP.HCM là làm sao có cơ chế chính sách đột phá, ưu đãi mạnh mẽ để thu hút được các “đại bàng”, làm cho những “đại bàng” đó tin tưởng đầu tư vào Thành phố thay vì các thị trường khác.

PGS.TS Trần Hoàng Ngân nhìn nhận thêm, hiện vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến thể chế, tự do hóa cán cân thị trường vốn, tự do hóa chuyển đổi thị trường tiền tệ... nên phải được xem xét và trình Quốc hội trong thời gian tới.

Còn theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Đình Cung, trong bối cảnh cần phải điều chỉnh nhiều luật lệ để có đột phá thu hút đầu tư thì TP.HCM cần thay đổi cách tiếp cận. Như với thị trường hàng hóa phái sinh, có thể đề xuất nghị định của Chính phủ về thành lập thị trường hàng hóa sản phẩm. Riêng với thị trường fintech thì cần ban hành luật riêng về ngân hàng số thay vì sửa đổi các luật hiện nay.

Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM Trần Du Lịch cũng nhìn nhận: Chúng ta phải làm sao để tập trung chính sách thu hút các quỹ đầu tư, các định chế tài chính quốc tế tầm cỡ. Đặc biệt, trong lĩnh vực này cần lưu ý các mảng công nghệ số, fintech và các sản phẩm khác, kể cả đồng tiền số, ngân hàng số…

PGS.TS Trần Đình Thiên - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam lưu ý thêm: TTTC quốc tế phải hướng đến quy mô, thế hệ của tương lai. Trong đó cơ chế, chính sách phải có tính cạnh tranh không chỉ vượt trội mà còn phải khác biệt với khu vực và quốc tế, vài chục năm nữa cũng vẫn hiệu quả. Đây là điểm then chốt trong câu chuyện cạnh tranh của Việt Nam và quốc tế.

Tựu trung mà nói, “thể chế” chính là nút thắt của sức hút của một TTTCQT. Bởi bản chất thị trường hàng hóa phái sinh là giao dịch tài chính. Với công nghệ hiện nay, địa điểm không còn quan trọng mà cần có chính sách, công cụ phù hợp để hấp dẫn nhà đầu tư.

Chính Kỳ

Xem thêm

Không chỉ cần vốn, doanh nghiệp còn cần công nghệ và những cái bắt tay chiến lược

Không chỉ cần vốn, doanh nghiệp còn cần công nghệ và những cái bắt tay chiến lược

(CLO) Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cấp thiết, doanh nghiệp không chỉ cần nguồn vốn xanh mà còn phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường hợp tác với nhà trường, ngân hàng, đối tác quốc tế. Những cái bắt tay chiến lược được kỳ vọng sẽ mở ra hướng đi mới, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với những biến động của thị trường.

IMF: Việt Nam sắp vượt Indonesia về GDP bình quân đầu người năm 2026

IMF: Việt Nam sắp vượt Indonesia về GDP bình quân đầu người năm 2026

(CLO) GDP bình quân đầu người của Việt Nam dự kiến đạt 5.259 USD trong năm 2026, vượt Indonesia và đưa nước này lên vị trí thứ năm trong ASEAN. Đà tăng trưởng được hỗ trợ bởi đầu tư công, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và xuất khẩu, dù triển vọng dài hạn vẫn phụ thuộc vào khả năng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực công nghệ.

Lạng Sơn lần đầu đạt kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 106 tỷ USD

Lạng Sơn lần đầu đạt kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 106 tỷ USD

(CLO) Từ đầu năm 2026 đến ngày 30/10, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn đạt trên 106 tỷ USD, tăng hơn 38% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm hơn 11% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh vượt mốc 100 tỷ USD.

Luật Dầu khí 2026: Kỳ vọng 'đánh thức' những mỏ dầu cận biên

Luật Dầu khí 2026: Kỳ vọng 'đánh thức' những mỏ dầu cận biên

(CLO) Luật Dầu khí 2026 được kỳ vọng tạo cú hích cho ngành dầu khí thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đơn giản hóa thủ tục và bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư, đặc biệt đối với các mỏ dầu khí cận biên có điều kiện khai thác khó khăn, hiệu quả kinh tế thấp.

Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo giờ: Cần xây dựng cơ chế giá hợp lý để người dân thay đổi thói quen sử dụng điện

Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo giờ: Cần xây dựng cơ chế giá hợp lý để người dân thay đổi thói quen sử dụng điện

(NB&CL) Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo khung giờ cao điểm, thấp điểm được kỳ vọng giúp giảm áp lực cho hệ thống điện. Tuy nhiên, chuyên gia cảnh báo hóa đơn tiền điện có thể tăng nếu người dân không thể dịch chuyển nhu cầu sử dụng điện.

Bài toán vốn 1.500 tỷ USD và bước đi đầu tiên của Trung tâm tài chính Việt Nam

Bài toán vốn 1.500 tỷ USD và bước đi đầu tiên của Trung tâm tài chính Việt Nam

​(CLO) Trong tháng 11 tới, quy chế về thành lập và quản lý các quỹ đầu tư tại Trung tâm tài chính Việt Nam sẽ chính thức được ban hành, tương thích với mô hình của Singapore hay Dubai. Động thái này được kỳ vọng sẽ tạo ra "cú hích" để khơi thông dòng vốn toàn cầu, giải quyết bài toán khổng lồ về nhu cầu vốn đầu tư lên tới 1.500 tỷ USD của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030.

Sản xuất công nghiệp tăng hai con số, kỳ vọng nối dài đà khởi sắc

Sản xuất công nghiệp tăng hai con số, kỳ vọng nối dài đà khởi sắc

(CLO) Sản xuất công nghiệp tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế khi IIP 9 tháng năm 2026 tăng 12,3%, với 15 địa phương ghi nhận mức tăng trên 13%. Trong quý IV, dù còn đối mặt áp lực về đơn hàng, nguyên vật liệu và chi phí logistics, phần lớn doanh nghiệp vẫn kỳ vọng duy trì ổn định hoặc cải thiện hoạt động sản xuất, tạo động lực cho tăng trưởng những tháng cuối năm.

'Cỗ máy' tăng trưởng cần dòng vốn mới, không thể chỉ trông chờ tín dụng ngân hàng

'Cỗ máy' tăng trưởng cần dòng vốn mới, không thể chỉ trông chờ tín dụng ngân hàng

(CLO) Việt Nam cần huy động khoảng 280–300 tỷ USD mỗi năm để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030. Trong bối cảnh nguồn vốn vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư dài hạn được xem là hướng đi quan trọng để đa dạng hóa dòng vốn, giảm áp lực tín dụng và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Thế giới gánh nợ 365 nghìn tỷ USD, chi phí lãi vay ngày càng tăng

Thế giới gánh nợ 365 nghìn tỷ USD, chi phí lãi vay ngày càng tăng

(CLO) Nợ toàn cầu đã vượt 365 nghìn tỷ USD, trong khi chi phí vay vốn leo thang gây thêm sức ép lên ngân sách các chính phủ. Tại Pháp, lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm vượt 5% lần đầu tiên kể từ năm 2002, làm dấy lên lo ngại về khả năng kiểm soát nợ công trong bối cảnh bất ổn kinh tế và xã hội.

Vĩnh Long tập trung phát triển chiến lược trở thành trung tâm kinh tế biển và năng lượng tái tạo ĐBSCL

Vĩnh Long tập trung phát triển chiến lược trở thành trung tâm kinh tế biển và năng lượng tái tạo ĐBSCL

(CLO) Sau sáp nhập địa giới hành chính, Vĩnh Long mang vóc dáng chiến lược mới với 130km bờ biển và vị trí tâm điểm kết nối Đồng bằng sông Cửu Long. Để tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng và cơ cấu kinh tế, tỉnh đang tái định hình 3 phân vùng không gian, quyết tâm bứt phá thành trung tâm kinh tế biển và năng lượng tái tạo hàng đầu toàn vùng vào năm 2030.

Cỡ chữ bài viết: