Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045

(CLO) Ngày 11/2/2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị đã ký ban hành Nghị quyết số 55-NQ/TW về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Mục tiêu quan trọng của ngành Dầu khí là đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí. Ảnh: Petrovietnam

Mục tiêu quan trọng của ngành Dầu khí là đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí. Ảnh: Petrovietnam

Bước phát triển nhanh, tương đối đồng bộ

Sau 15 năm thực hiện Kết luận số 26-KL/TW, ngày 24/10/2003 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược và quy hoạch phát triển ngành điện lực Việt Nam và 10 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị khóa X về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, ngành năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng đã có bước phát triển nhanh, tương đối đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực; bám sát định hướng và đạt được nhiều mục tiêu cụ thể đề ra.

Cung cấp năng lượng, đặc biệt là cung cấp điện cơ bản đáp ứng đủ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện. Công nghiệp khai thác dầu khí và lọc hóa dầu phát triển mạnh; sản lượng khai thác dầu khí tăng cao, hình thành được một số cơ sở lọc hóa dầu quy mô lớn. Đã đầu tư xây dựng nhiều dự án mỏ than có công suất lớn; sản lượng khai thác than thương phẩm tăng; thủy điện phát triển nhanh, gần đây điện gió và điện mặt trời bắt đầu phát triển với tốc độ cao.

Đầu tư xây dựng hạ tầng cung cấp điện có sự phát triển mạnh mẽ, là điều kiện quan trọng cho việc bảo đảm an ninh cung ứng điện. Đưa điện lưới quốc gia tới hầu hết mọi miền của đất nước, kể cả vùng sâu, vùng xa, biên cương, hải đảo. Tiêu thụ năng lượng gia tăng đáng kể, cơ cấu tiêu thụ năng lượng chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa...

Tuy vậy, ngành năng lượng nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia còn nhiều thách thức; các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu, phải nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn; nhiều dự án điện bị chậm so với quy hoạch, kế hoạch; một số chỉ tiêu bảo đảm an ninh năng lượng đang biến động theo chiều hướng bất lợi.

Công tác quản lý, khai thác nguồn tài nguyên năng lượng còn một số hạn chế. Hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được nâng cao, việc nội địa hóa và hỗ trợ thị trường từ các dự án trong ngành năng lượng cho hàng hóa cơ khí chế tạo sản xuất trong nước còn hạn chế...

Chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động trong một số lĩnh vực còn thấp. Thị trường năng lượng cạnh tranh phát triển chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành, giữa phát điện với truyền tải điện; chính sách giá năng lượng còn bất cập, chưa hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị trường, chưa tách bạch với chính sách an sinh xã hội...

Ngành năng lượng đạt trình độ tiên tiến của khu vực

Nghị quyết đưa ra mục tiêu tổng quát: Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

Ngành năng lượng phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước kết hợp với xuất, nhập khẩu năng lượng hợp lý; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được một số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; nâng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, phân phối điện tiên tiến, hiện đại.

Nghị quyết tập trung vào các mục tiêu cụ thể như: Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, đáp ứng cho các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; trong đó, năng lượng sơ cấp đến năm 2030 đạt khoảng 175 - 195 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), đến năm 2045, đạt khoảng 320 - 350 triệu TOE; tổng công suất của các nguồn điện đến năm 2030 đạt khoảng 125 - 130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550 - 600 tỉ KWh.

Tỉ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 - 20% vào năm 2030; 25 - 30% vào năm 2045. Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đến năm 2030 đạt mức 105 - 115 triệu TOE, năm 2045 đạt mức 160 - 190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp năm 2030 đạt từ 420 - 460 kgOE/1.000 USD GDP, năm 2045 từ 375 - 410 kgOE/1.000 USD GDP.

Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng. Đến năm 2030, độ tin cậy cung cấp điện năng thuộc tốp 4 nước dẫn đầu ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN. Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; bảo đảm mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng. Đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hoá lỏng (LNG) khoảng 8 tỉ m3 vào năm 2030 và khoảng 15 tỉ m3 vào năm 2045.

Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 7% vào năm 2030 và khoảng 14% vào năm 2045. Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường ở mức 15% vào năm 2030, lên mức 20% vào năm 2045.

Tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết xác định: Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; các phân ngành năng lượng phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; hệ thống hạ tầng năng lượng phát triển đồng bộ, hiện đại, khả năng kết nối khu vực và quốc tế được nâng cao; chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học - công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ tiên tiến của một nước công nghiệp phát triển hiện đại.

10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp

Nghị quyết đưa ra 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp cho định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gồm: Phát triển các nguồn cung năng lượng sơ cấp theo hướng tăng cường khả năng tự chủ, đa dạng hoá, bảo đảm tính hiệu quả, tin cậy và bền vững; Phát triển nhanh và bền vững ngành điện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Cơ cấu lại các ngành và khu vực tiêu thụ năng lượng song song với thực hiện chính sách về sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả.

Phát triển hạ tầng năng lượng bền vững, kết nối khu vực; nâng cao nội lực ngành công nghiệp chế tạo, dịch vụ phục vụ ngành năng lượng; Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng; khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia xã hội hoá phát triển năng lượng; Đổi mới cơ chế, chính sách, phát triển thị trường năng lượng đồng bộ, liên thông, hiện đại và hiệu quả, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa; Phát triển khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành năng lượng.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế; tích cực, chủ động xây dựng các đối tác chiến lược để thực hiện mục tiêu nhập khẩu năng lượng trong dài hạn và đầu tư tài nguyên năng lượng ở nước ngoài; Thực thi chính sách bảo vệ môi trường ngành năng lượng gắn với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển ngành năng lượng.

PV

Xem thêm

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tập trung xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tập trung xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp

Sáng 18/6, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã họp Phiên thứ 30 để thảo luận, cho ý kiến về kết quả thực hiện Chương trình công tác 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 cùng một số nội dung quan trọng khác.

Ninh Bình: Thống nhất các nội dung trình tại Kỳ họp thường lệ giữa năm 2026

Ninh Bình: Thống nhất các nội dung trình tại Kỳ họp thường lệ giữa năm 2026

(CLO) Ngày 18/6, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình tổ chức hội nghị thảo luận, cho ý kiến đối với các nội dung trình tại Kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 của HĐND tỉnh khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031 và một số nội dung thuộc thẩm quyền. Ông Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy chủ trì hội nghị.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo 'gỡ vướng' về tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo 'gỡ vướng' về tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế

(CLO) Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng giao Bộ Tài chính nghiên cứu kỹ vướng mắc phát sinh thực tế để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh tại Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế, đảm bảo đúng quy định pháp luật và phù hợp thực tiễn triển khai thực hiện, hỗ trợ, tạo thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật.

Khai mạc phiên trọng thể Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV

Khai mạc phiên trọng thể Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV

(CLO) Sáng 18/6, diễn ra lễ khai mạc Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tới dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn. Cùng dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Bùi Thị Minh Hoài.

Chỉ đầu tư nâng cấp cao tốc khi xác định rõ hiệu quả và khả năng thu hồi vốn

Chỉ đầu tư nâng cấp cao tốc khi xác định rõ hiệu quả và khả năng thu hồi vốn

(CLO) Về đầu tư nâng cấp hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc lưu ý trong quá trình nghiên cứu cần tính toán, đánh giá đầy đủ hiệu quả đầu tư, hạch toán kinh tế xã hội, chỉ đầu tư khi dự án có hiệu quả cụ thể và phải xác định được khả năng thu hồi vốn.

Kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu tư dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu tư dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

(CLO) Về điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, trong đó có tổng mức đầu tư, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu rà soát kỹ lưỡng đơn giá, định mức, chi phí; làm rõ chi phí tăng do điều chỉnh khối lượng, tăng do thay đổi định mức, đơn giá… bảo đảm tính đúng, tính đủ, phù hợp với quy định và điều kiện của Việt Nam; kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu tư…

Cộng đồng người Việt Nam tại Nga là cầu nối vững chắc, làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện

Cộng đồng người Việt Nam tại Nga là cầu nối vững chắc, làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện

(CLO) Thủ tướng Lê Minh Hưng tin tưởng cộng đồng người Việt Nam tại Nga sẽ tiếp tục là lực lượng tiên phong trong việc tăng cường giao lưu nhân dân, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học- công nghệ và giáo dục giữa hai nước; là cầu nối vững chắc góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nga.

Cỡ chữ bài viết: