Cần bổ sung hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển Vùng sau đầu tư
Trong đó, đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng (Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn) nhấn mạnh, cần thay đổi tư duy từ đầu tư một tuyến giao thông sang kiến tạo một hành lang tăng trưởng mới.
Theo đại biểu, với quy mô đầu tư rất lớn, hiệu quả của dự án không nên chỉ được đánh giá thông qua lưu lượng phương tiện hoặc doanh thu phí, mà cần được xem xét trên nhiều phương diện như khả năng mở ra không gian phát triển mới, thu hút các khu công nghiệp, trung tâm logistics, đô thị, dịch vụ; tạo việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của toàn vùng.
Đại biểu đề nghị trong báo cáo nghiên cứu khả thi cần bổ sung hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phát triển vùng sau đầu tư; đồng thời, đồng bộ quy hoạch phát triển công nghiệp, logistics, đô thị và dịch vụ dọc tuyến ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, qua đó phát huy tối đa hiệu quả nguồn lực đầu tư công.
Nhấn mạnh vai trò kết nối kinh tế cửa khẩu và chuỗi logistics quốc gia, đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng cho rằng khi Vành đai 5 kết nối với cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn và các trục giao thông hướng tới cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh, tuyến đường sẽ không chỉ phục vụ giao thông Vùng Thủ đô mà còn góp phần hình thành hành lang logistics từ cửa khẩu đến cảng biển và các trung tâm sản xuất. Từ đó, đại biểu đề nghị Chính phủ đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả liên kết vùng, kết nối quốc tế của dự án, coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng để xác định thứ tự ưu tiên đầu tư các đoạn tuyến.
Dự án đi qua 7 địa phương, được chia thành 22 dự án thành phần và có nhiều chủ thể cùng tham gia. Vì vậy, đại biểu Nguyễn Hoàng Tùng đề nghị sớm xây dựng cơ chế quản trị thống nhất toàn tuyến, ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số trong quản lý, điều hành giao thông, thu phí và bảo trì, tránh tình trạng thiếu đồng bộ trong khai thác công trình sau khi hoàn thành.
Quan tâm đến các cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng cho dự án, đại biểu Tòng Thị Hạnh (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) đề nghị tiếp tục làm rõ chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với doanh nghiệp bị thu hồi đất sản xuất. Theo đại biểu, dự thảo Nghị quyết bổ sung trường hợp địa phương được tổ chức thu hồi đất để bố trí lại khu đất cho doanh nghiệp phải di dời khỏi phạm vi dự án. Đây là chính sách mới so với các quy định và nghị quyết trước đây, do đó Chính phủ cần giải trình đầy đủ, thuyết phục hơn về sự cần thiết, bảo đảm việc thu hồi đất phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Đối với cơ chế cho phép Bộ trưởng Bộ Xây dựng hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh được giao làm cơ quan chủ quản quyết định, điều chỉnh hình thức đầu tư các dự án thành phần, đại biểu Tòng Thị Hạnh đề nghị quy định rõ việc xử lý chuyển tiếp. Việc thay đổi từ đầu tư công sang phương thức đầu tư khác trong quá trình triển khai có thể làm phát sinh những trình tự, thủ tục khác nhau, vì vậy cần bảo đảm dự án không bị gián đoạn và nguồn vốn đầu tư công đã bố trí được quản lý hiệu quả.
Đại biểu cũng đề nghị làm rõ cơ chế điều tiết giá trị tăng thêm từ đất tại khu vực dọc tuyến. Dự thảo cần xác định cụ thể nguồn thu, tỷ lệ phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, cũng như mục đích sử dụng nguồn lực này. Theo đại biểu, nguồn thu từ giá trị tăng thêm của đất không chỉ phục vụ đầu tư hạ tầng giao thông mà còn có thể được sử dụng để hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, phát triển nhà ở cho thuê và thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người dân tại khu vực chịu ảnh hưởng của dự án.
Dự án đi qua địa bàn 7 địa phương
Trước đó, theo tờ trình của Chính phủ, đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô dài khoảng 349km, đi qua địa bàn 7 địa phương, gồm Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ. Dự án gồm tuyến chính cao tốc quy mô 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100-120 km/h và đường song hành quy mô tối thiểu 2 làn xe, tốc độ thiết kế 60-80 km/h.
Tờ trình của Chính phủ nêu rõ hướng tuyến của dự án được nghiên cứu, lựa chọn bảo đảm phù hợp với quy hoạch, chiều dài ngắn nhất có thể, hạn chế khối lượng giải phóng mặt bằng. Phương án tuyến lựa chọn đã được 7/7 địa phương liên quan có ý kiến thống nhất bằng văn bản.
Tổng mức đầu tư dự án sơ bộ khoảng 288.268 tỷ đồng, bao gồm phần tuyến chính cao tốc khoảng 215.192 tỷ đồng, thực hiện bằng ngân sách Trung ương và đường song hành khoảng 73.076 tỷ đồng, làm bằng vốn ngân sách địa phương. Chính phủ dự kiến bố trí cho dự án trong giai đoạn 2026-2030 khoảng 59.700 tỷ đồng. Để thực hiện dự án, phạm vi giải phóng mặt bằng khoảng 4.011 ha với chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khoảng 78.143 tỷ đồng.
Về hình thức đầu tư, Chính phủ đề xuất áp dụng phương thức đầu tư đối tác công tư (PPP) và hình thức đầu tư công. Dự án dự kiến được chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, thực hiện năm 2027 và cơ bản hoàn thành công trình năm 2030. Các đoạn còn lại sẽ thực hiện trong giai đoạn 2026-2030, tiếp tục huy động các nguồn vốn để ưu tiên đầu tư sớm, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035.
Đề xuất áp dụng 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc biệt, trong đó có 8 chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án liên quan như về thẩm quyền quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư; thẩm định khả năng cân đối vốn cho Dự án; công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chỉ định thầu; điều chỉnh các quy hoạch có liên quan; giá trị tăng thêm từ khu vực dọc tuyến đường dự án…