Đổi mới thực chất cách tiếp cận trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo của người dân

(CLO) Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục đổi mới thực chất cách tiếp cận trong giảm nghèo, khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo của người nghèo, vùng nghèo.

Thành tựu từ một chủ trương lớn, xuyên suốt

Tờ trình về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung trình bày tại  Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XV, khẳng định: Đảng và Nhà nước ta xác định công tác giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, quan trọng, nhất quán, xuyên suốt trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

Những năm qua, cấp uỷ, chính quyền các cấp luôn quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, cùng với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị và sự nỗ lực của toàn dân, kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đã góp phần hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu Đảng, Quốc hội, Chính phủ đề ra.

Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 9,88% năm 2015 xuống còn 2,75% năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 4%/năm, có hơn 8 triệu người thoát nghèo, cận nghèo.

doi moi thuc chat cach tiep can trong giam ngheo khoi day y chi vuon len thoat ngheo cua nguoi dan hinh 1

Cần tiếp tục đổi mới thực chất cách tiếp cận trong giảm nghèo. Ảnh: T.L

Người nghèo, người dân sinh sống trên địa bàn nghèo, khó khăn được chú trọng hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề, hỗ trợ sinh kế, có việc làm, nâng cao thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.

Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là hình mẫu giảm nghèo hiệu quả khi là một trong 30 quốc gia áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu gắn với mục tiêu phát triển bền vững; đã hoàn thành sớm mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xoá đói, giảm nghèo.

Báo cáo cập nhật Phát triển con người và Nghèo đa chiều của UNDP năm 2019 cho thấy Việt Nam đứng thứ 29 trong số 102 quốc gia về chỉ số nghèo đa chiều và nằm trong số các quốc gia có thành tích cao nhất ở Đông Á và Thái Bình Dương về chỉ số này.

Còn nhiều thách thức

Tuy nhiên, đánh giá về công tác xoá đói giảm nghèo của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 cho thấy: Kết quả giảm nghèo chưa thực sự mang tính bền vững tại một số địa phương, tỷ lệ tái nghèo trong bốn năm 2016 - 2019 bình quân 4,09%/năm so với tổng số hộ thoát nghèo; tỷ lệ hộ nghèo phát sinh tương đối lớn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Chênh lệch giàu - nghèo, chênh lệch về tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tiếp cận thị trường, việc làm giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên… Nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%. Chuẩn thu nhập trong chuẩn nghèo hiện chỉ bằng 45% chuẩn mức sống tối thiểu, chưa được điều chỉnh kịp thời.

Một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với địa bàn nghèo, khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa hiệu quả. Tình trạng trục lợi chính sách xóa đói giảm nghèo vẫn diễn ra ở một số nơi khiến cho cơ hội thoát nghèo của người nghèo ít đi…

Nhận diện rõ điều đó, Đảng, Nhà nước đã có ngay những chỉ đạo kịp thời. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra một số mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể: “Đến năm 2025, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 25%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2025 dưới 4%; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5% hằng năm”.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm: “Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bao trùm, nhất là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững”.

Mới đây, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Tổng nguồn vốn thực hiện chương trình là 75 nghìn tỷ đồng.

Theo Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội Đào Ngọc Dung, Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn tới có đối tượng và địa bàn là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo trên phạm vi toàn quốc. Đối tượng của chương trình này còn bao gồm các đối tượng nghèo mới phát sinh vì các lý do khác nhau, trong đó có những người bị ảnh hưởng do dịch COVID-19, người nghèo ở nông thôn và thành thị.

Đổi mới thực chất cách tiếp cận trong giảm nghèo

Đó là ý kiến được nhiều sự đồng tình tại các phiên thảo luận của QH cũng như các cuộc hội thảo. Phần đa các ý kiến đều mong muốn có những giải pháp để hướng tới giải quyết giảm nghèo đa chiều một cách thực chất hơn, khơi dậy khát vọng giảm nghèo của người dân.

Sau hai giai đoạn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, đến thời điểm này, yêu cầu đặt ra đối với Chương trình là nguồn lực dành cho công tác giảm nghèo bền vững phải tập trung và cao hơn; công tác chỉ đạo thực hiện chương trình phải sát sao hơn; các giải pháp cần có tính đột phá hơn, phải khắc phục cho được những tồn tại, hạn chế trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo thời gian qua; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện Chương trình.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa (Đoàn Đồng Tháp), trong phiên thảo luận tại hội trường tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XV về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 cũng cho rằng cần phải tiếp cận theo tư duy chuyển những người nghèo, hộ nghèo từ đối tượng sang chủ thể và phải quan tâm hỗ trợ kinh tế hộ, nhóm hộ và coi đây là đòn bẩy cho công tác giảm nghèo. Bởi sự đổi mới trong tư duy về chủ trương giảm nghèo theo hướng giảm cho không và tăng cho vay ưu đãi là một hướng chúng ta cần phải tiếp cận cho vấn đề giảm nghèo.

Nhà nước chỉ hỗ trợ về cơ chế, về chính sách, về nguồn lực và hướng dẫn còn bản thân người nghèo hộ nghèo thì phải cố gắng vươn lên và phải làm sao các chính sách giảm nghèo phải khơi dậy được khát vọng và tạo ra động lực để cho những người nghèo mong muốn thoát nghèo.

PV

Xem thêm

Ủy ban Kiểm tra Trung ương giám sát việc thực hiện Nghị quyết 57 tại Lào Cai

Ủy ban Kiểm tra Trung ương giám sát việc thực hiện Nghị quyết 57 tại Lào Cai

(CLO) Ngày 2/11, Đoàn giám sát số 140 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương do ông Phạm Thái Hà, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bộ tiêu chí đo lường hạnh phúc người dân của Hà Nội có gì đặc biệt?

Bộ tiêu chí đo lường hạnh phúc người dân của Hà Nội có gì đặc biệt?

(CLO) UBND TP Hà Nội vừa ban hành Bộ tiêu chí và Phương pháp khảo sát, đo lường Chỉ số hạnh phúc của người dân Thủ đô giai đoạn 2026–2030. Hà Nội thiết lập công cụ đo lường quy chuẩn nhằm chuyển trọng tâm quản trị từ việc đo đếm thành tích sang đo lường sự hài lòng và chất lượng sống thực tế của người dân.

Nghiên cứu khoa học nông nghiệp phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể

Nghiên cứu khoa học nông nghiệp phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể

(CLO) Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía nam, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu mọi nhiệm vụ phải hướng tới kết quả cụ thể, có địa chỉ ứng dụng, có khả năng nhân rộng và đóng góp thực chất vào phát triển ngành nông nghiệp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khẩn trương đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khẩn trương đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam

(CLO) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khẩn trương rà soát và đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam; phải đặt chiến lược trong tổng thể các yêu cầu phát triển mới của đất nước, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đánh thức nguồn lực bản địa bằng công nghệ: Đòn bẩy đưa kinh tế vùng cao bứt phá trong kỷ nguyên mới

Đánh thức nguồn lực bản địa bằng công nghệ: Đòn bẩy đưa kinh tế vùng cao bứt phá trong kỷ nguyên mới

(CLO) Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sở hữu kho tàng tri thức bản địa vô giá, nguồn dược liệu quý và tinh hoa nghề thủ công lâu đời. Bước vào kỷ nguyên mới, sự đồng hành của khoa học, công nghệ (KHCN) và hạ tầng số được kỳ vọng trở thành cầu nối chiến lược: không chỉ dừng lại ở bảo tồn di sản mà còn chuẩn hóa, số hóa và thương mại hóa, biến tiềm năng văn hóa độc đáo thành nguồn lực kinh tế tự chủ, bền vững cho đồng bào.

Đưa Luật Căn cước và dịch vụ công trực tuyến về tận bản làng vùng cao Phú Thọ

Đưa Luật Căn cước và dịch vụ công trực tuyến về tận bản làng vùng cao Phú Thọ

(CLO) Để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số, lực lượng Công an cơ sở, Tổ công nghệ số cộng đồng cùng cán bộ Bộ phận Một cửa tại các xã miền núi tỉnh Phú Thọ đang bền bỉ bám bản, giúp đồng bào dân tộc thiểu số nắm vững Luật Căn cước, làm chủ ứng dụng VNeID và thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Cộng hưởng hạ tầng số và năng lực công nghệ: Động lực để kinh tế tập thể vùng cao bứt phá

Cộng hưởng hạ tầng số và năng lực công nghệ: Động lực để kinh tế tập thể vùng cao bứt phá

(CLO) Sự kết hợp giữa hạ tầng số hiện đại và năng lực làm chủ công nghệ đang tạo cú hích để kinh tế tập thể vùng cao bứt phá. Tháo gỡ “điểm nghẽn” kỹ thuật theo Hướng dẫn 3930/HD-BKHCN giúp các hợp tác xã nâng tầm nông sản bản địa, đưa đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững.

Từ củ dong riềng vùng cao đến sản phẩm OCOP 5 sao: Hành trình vươn xa của miến dong Tài Hoan

Từ củ dong riềng vùng cao đến sản phẩm OCOP 5 sao: Hành trình vươn xa của miến dong Tài Hoan

(CLO) Từ nghề làm miến dong truyền thống của đồng bào dân tộc Tày ở Côn Minh, tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Tài Hoan đã từng bước đổi mới quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu OCOP 5 sao và đưa sản phẩm sang thị trường quốc tế. Mô hình cho thấy khi tri thức bản địa được kết hợp với khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, nông sản miền núi có thể trở thành hàng hóa có giá trị, tạo sinh kế cho người dân và mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững.

Cỡ chữ bài viết: