Từ củ dong riềng vùng cao đến sản phẩm OCOP 5 sao: Hành trình vươn xa của miến dong Tài Hoan

(CLO) Từ nghề làm miến dong truyền thống của đồng bào dân tộc Tày ở Côn Minh, tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Tài Hoan đã từng bước đổi mới quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu OCOP 5 sao và đưa sản phẩm sang thị trường quốc tế. Mô hình cho thấy khi tri thức bản địa được kết hợp với khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, nông sản miền núi có thể trở thành hàng hóa có giá trị, tạo sinh kế cho người dân và mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững.

Đánh thức giá trị từ sản vật quê hương

Ở vùng núi Côn Minh, cây dong riềng từ lâu đã gắn bó với đời sống của người dân. Trên những triền đồi và soi bãi ven suối, loại cây này được trồng để lấy củ, chế biến thành tinh bột và làm ra những sợi miến mang hương vị đặc trưng của vùng cao.

Thế nhưng, cũng như nhiều sản vật miền núi khác, tiềm năng của cây dong riềng từng bị giới hạn bởi phương thức sản xuất nhỏ lẻ. Khi sản phẩm chủ yếu được làm thủ công, quy mô phụ thuộc vào sức lao động của từng hộ, việc mở rộng thị trường và duy trì nguồn cung ổn định không phải chuyện dễ dàng.

Câu chuyện của Hợp tác xã Tài Hoan bắt đầu từ chính nghề truyền thống ấy.

Bà Nguyễn Thị Hoan, Giám đốc hợp tác xã, xuất phát từ nghề làm miến của gia đình. Từ quy mô sản xuất nhỏ, bà từng bước tìm kiếm thị trường, mở rộng khách hàng và đầu tư máy móc để nâng cao năng lực chế biến. Năm 2007, gia đình mạnh dạn vay vốn đầu tư dây chuyền sản xuất, đưa năng suất từ khoảng 50kg lên mức cao điểm 500kg miến mỗi ngày.

xzgpgh-l6uhydse4jef4ra9h24horylnt15j8rbk4e1bhacahsbcs-qz2ooo4jtq4kfywde5r7kmesoylqokmtalssj5lpwnsn2xnkl9jmdsbhnohctwnpra6jjwzsjvucxq0rvm9fikqmy96-iwzrgtqdgm6on1x47bai-yoin6zm-od-6b3jsdtl9nv4.jpg
Sản phẩm miến dong Tài Hoan được đóng gói, hoàn thiện để đưa ra thị trường. Ảnh: Làng nghề việt

Năm 2018, Hợp tác xã Tài Hoan được thành lập, đánh dấu bước chuyển từ hoạt động sản xuất gia đình sang tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã. Việc tập hợp các thành viên, đầu tư thiết bị và xây dựng liên kết với người trồng dong riềng đã tạo nền tảng để sản phẩm phát triển theo hướng hàng hóa.

Điểm đáng chú ý là hợp tác xã không lựa chọn cách phát triển bằng việc chạy theo những sản phẩm hoàn toàn mới. Thay vào đó, đơn vị khai thác lợi thế sẵn có của địa phương, giữ nguyên giá trị cốt lõi của nghề truyền thống, đồng thời cải tiến quy trình để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Tháng 12/2021, miến dong Tài Hoan trở thành sản phẩm OCOP 5 sao cấp quốc gia đầu tiên của tỉnh Bắc Kạn trước đây. Đến năm 2024, sản phẩm tiếp tục được đánh giá lại và giữ vững danh hiệu này.

Đây là sự ghi nhận đối với quá trình nâng cao chất lượng, hoàn thiện sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Quan trọng hơn, danh hiệu OCOP 5 sao mở ra cơ hội quảng bá rộng rãi hơn cho một sản phẩm được tạo nên từ nguyên liệu bản địa và kinh nghiệm chế biến của người dân vùng cao.

Khoa học, công nghệ tạo nền tảng cho chất lượng

Để một sản phẩm truyền thống có thể cạnh tranh trên thị trường rộng lớn, hương vị đặc trưng thôi chưa đủ. Sản phẩm còn phải bảo đảm chất lượng ổn định, an toàn thực phẩm, quy cách đóng gói và khả năng đáp ứng đơn hàng.

Với miến dong Tài Hoan, quá trình đổi mới được thể hiện qua việc đầu tư thiết bị, cải tiến các công đoạn chế biến và chú trọng kiểm soát chất lượng từ nguyên liệu đến thành phẩm.

Theo các thông tin được công bố, miến dong Tài Hoan được sản xuất từ tinh bột dong riềng nguyên chất. Các công đoạn sơ chế, lọc tinh bột, tạo sợi, làm khô và đóng gói được tổ chức theo quy trình nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm.

dtowlvlkfk3lherbeazd2n6-cv2ax49emutdnvtonfinnivffmshineefr3g76ts343rx8ht-mms65qyybsccg09fl5rz1qwxdjjf-wvxh2lktf4b0fr2wgvf4fmj7c8bedt3awmjnzfnbqbdquedkftuqgi3s8ngamqu0vb2gdajrm8xdv-qqhg1peavmgu.jpg
Người lao động thực hiện các công đoạn phân loại, cân và đóng gói miến dong tại Hợp tác xã Tài Hoan. Miến dong được phơi trong nhà màng, góp phần kiểm soát quá trình làm khô và bảo đảm chất lượng sản phẩm. Ảnh: Làng nghề việt.

Việc ứng dụng máy móc giúp nâng cao năng lực sản xuất, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động thủ công ở một số công đoạn và tạo điều kiện duy trì chất lượng đồng đều hơn. Quy trình chế biến được kiểm soát cũng giúp hợp tác xã chủ động hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn của đối tác.

Đối với sản phẩm nông nghiệp chế biến, đây là bước chuyển có ý nghĩa. Nếu kinh nghiệm truyền thống giúp tạo nên đặc trưng của sản phẩm thì khoa học, công nghệ giúp những đặc trưng ấy được duy trì ổn định khi sản xuất với quy mô lớn.

Bên cạnh thiết bị, việc hoàn thiện bao bì, nhãn mác và thông tin sản phẩm cũng góp phần nâng cao khả năng nhận diện thương hiệu. Một sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, thông tin minh bạch và quy cách đóng gói phù hợp sẽ tạo thêm niềm tin cho người tiêu dùng, đồng thời thuận lợi hơn khi tiếp cận các hệ thống phân phối hiện đại.

Từ góc độ phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, câu chuyện của Tài Hoan cho thấy ứng dụng khoa học, công nghệ không nhất thiết đồng nghĩa với việc phải thay đổi hoàn toàn nghề truyền thống. Điều quan trọng là lựa chọn giải pháp phù hợp, giải quyết được những điểm nghẽn trong sản xuất và tạo ra giá trị kinh tế thực chất.

Từ vùng nguyên liệu đến thị trường quốc tế

Một trong những yếu tố quan trọng giúp miến dong Tài Hoan mở rộng sản xuất là việc xây dựng vùng nguyên liệu và liên kết với người trồng dong riềng.

Hợp tác xã đã phát triển vùng nguyên liệu khoảng 50ha, liên kết với hàng trăm hộ dân trong và ngoài địa phương. Cùng với đó, diện tích trồng dong riềng tại Côn Minh được mở rộng, góp phần khôi phục và phát triển vùng nguyên liệu phục vụ chế biến.

Liên kết này tạo ra mối quan hệ hai chiều giữa cơ sở chế biến và người sản xuất. Hợp tác xã có thêm điều kiện chủ động nguồn nguyên liệu, trong khi người trồng dong riềng có cơ hội tiếp cận đầu ra ổn định hơn, hạn chế tình trạng phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái.

2wvtvqnpse4-uroqhgdhumrhuod3f0c8vc3paqokqc3pfohrn7xx-befipudpgcjzggxwaycx86eibag1hccfsuu7s9kma6-tboceoi-iiyjff59twhageq1bq5s7-yuausqmdp-poeksaw5gyidgdtrdf7d-3ntav5tpctne5b49ncs1qsmx-ekgaedelfj.jpg
Miến dong được phơi trong nhà màng, góp phần kiểm soát quá trình làm khô và bảo đảm chất lượng sản phẩm. Ảnh: VGP/Thiện Tâm

Khi sản phẩm được tiêu thụ với quy mô lớn hơn, nhu cầu nguyên liệu cũng tăng lên, tạo động lực để người dân duy trì diện tích trồng dong riềng. Từ một loại cây gắn với sinh kế truyền thống, dong riềng từng bước trở thành mắt xích trong chuỗi giá trị nông nghiệp của địa phương.

Năm 2022, miến dong Tài Hoan có lô hàng xuất khẩu đầu tiên sang Cộng hòa Séc. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới đối với một sản phẩm chế biến từ nguyên liệu vùng cao, đồng thời cho thấy khả năng tham gia thị trường quốc tế của những cơ sở sản xuất quy mô hợp tác xã.

Để thực hiện xuất khẩu, sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, kiểm nghiệm, bao bì, nhãn mác và hồ sơ liên quan. Đại diện hợp tác xã cho biết có những lô hàng phải trải qua hơn một năm gửi mẫu kiểm nghiệm, kiểm tra dư lượng và hoàn thiện các thủ tục cần thiết.

Thực tế ấy cho thấy xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, mà còn đòi hỏi năng lực quản trị, sự kiên trì và khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Từ vùng nguyên liệu đến dây chuyền chế biến, từ kiểm soát chất lượng đến hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu, mỗi khâu đều có vai trò quyết định đối với khả năng duy trì thị trường. Đây cũng là kinh nghiệm đáng chú ý đối với những hợp tác xã đang tìm hướng đưa đặc sản địa phương vươn xa.

Kinh tế số mở rộng cơ hội tiếp cận khách hàng

Cùng với đổi mới sản xuất, miến dong Tài Hoan từng bước mở rộng hoạt động quảng bá và tiêu thụ thông qua các nền tảng trực tuyến. Sản phẩm đã được giới thiệu trên các nền tảng như Alibaba, Sendo và Big C Online. Việc hiện diện trên môi trường số tạo thêm kênh tiếp cận khách hàng, hỗ trợ quảng bá thương hiệu và mở rộng khả năng kết nối với các đối tác phân phối.

Đối với cơ sở sản xuất ở miền núi, khoảng cách địa lý thường làm tăng chi phí tiếp thị, tìm kiếm khách hàng và tổ chức phân phối. Các nền tảng trực tuyến có thể góp phần giảm bớt rào cản này, giúp sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng ở nhiều địa phương mà không chỉ phụ thuộc vào các điểm bán truyền thống.

of5phprgfnccxljzymkppkzo96ty-9xdjdhjaccpfmjldlsq-0qvkejq2xmp1xp5lpim-0crfsvm5su7pxzwbhvnlblgftvzmes92kn8np0wv-6wl4wbtqctt-5gv-jbt3u8r0oxvvnxouat82zqnebpwqwvxcse22l0apozm7veraj8bbhl8318hubpijt9.jpg
Đầu tư thiết bị, cải tiến quy trình giúp nâng cao năng lực sản xuất miến dong tại địa phương. Ảnh: Nông nghiệp và Môi trường.

Tuy nhiên, đưa sản phẩm lên mạng mới là bước đầu. Để kinh tế số tạo ra hiệu quả bền vững, cơ sở sản xuất cần bảo đảm thông tin hàng hóa chính xác, duy trì chất lượng, tổ chức giao nhận và xử lý đơn hàng hiệu quả. Khả năng đáp ứng đơn hàng cũng phải gắn với năng lực sản xuất thực tế.

Trong trường hợp của Tài Hoan, việc mở rộng thị trường được hỗ trợ bởi nền tảng sản xuất đã được tổ chức tương đối bài bản, sản phẩm có thương hiệu và vùng nguyên liệu liên kết. Đây là những điều kiện quan trọng để hoạt động quảng bá trực tuyến chuyển thành cơ hội tiêu thụ thực tế.

Bài học đặt ra là chuyển đổi số không thể tách rời quá trình nâng cao năng lực sản xuất. Công nghệ giúp kết nối với thị trường, nhưng chất lượng, uy tín và khả năng cung ứng mới là những yếu tố quyết định để duy trì khách hàng.

Đối với các sản phẩm OCOP ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, kết hợp bán hàng trực tuyến với xúc tiến thương mại, hệ thống phân phối và liên kết sản xuất sẽ giúp mở rộng đầu ra theo hướng đa dạng hơn, hạn chế phụ thuộc vào một kênh tiêu thụ duy nhất.

Sinh kế được tạo dựng từ chuỗi giá trị địa phương

Trong mùa cao điểm, Hợp tác xã Tài Hoan tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 35–40 lao động trực tiếp, với năng suất có thể đạt 2 tấn miến mỗi ngày. Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên được công bố ở mức khoảng 55 triệu đồng/người/năm.

Bên cạnh việc làm tại cơ sở chế biến, vùng nguyên liệu dong riềng còn tạo sinh kế cho các hộ dân tham gia liên kết. Ghi nhận người dân trong vùng có thể đạt thu nhập khoảng 40–50 triệu đồng mỗi năm từ trồng và chế biến dong riềng.

v0qrdvd9ez7-o2ctxxn60mg-de0n8x-x1a8ei-c1pf1n-nsseoxxdho5zphgl6daafplqp19dqgazuv6cnrfxupdyrbjtzyjkmg9gcxig15ql6tcp9yj9j8mewp7z-z2-zi01rhtsxg07g0t-y-5-wz4a2ppefer98hrapgr46oajub13-0kzjru4cgemjli.jpg
Người dân thu hoạch dong riềng, cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến tại Côn Minh. Ảnh: Báo Bắc Kạn.

Những kết quả này cho thấy tác động của mô hình không chỉ nằm ở doanh thu của một hợp tác xã. Khi sản xuất được tổ chức theo chuỗi, lợi ích có thể lan tỏa đến người trồng nguyên liệu, lao động chế biến và các hoạt động dịch vụ liên quan.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc có thêm công việc và thu nhập ngay tại quê hương mang ý nghĩa thiết thực. Người dân có điều kiện tiếp tục gắn bó với đất đai, duy trì nghề truyền thống và chăm lo gia đình mà không nhất thiết phải rời địa phương để tìm kiếm việc làm.

Mô hình cũng cho thấy vai trò của hợp tác xã trong việc kết nối các hộ sản xuất nhỏ với thị trường. Thông qua liên kết, người dân có cơ hội tham gia chuỗi giá trị, còn cơ sở chế biến có điều kiện xây dựng nguồn nguyên liệu ổn định hơn.

Khi lợi ích giữa các bên được duy trì hài hòa, hoạt động sản xuất không chỉ tạo ra giá trị thương mại mà còn góp phần củng cố sinh kế và phát triển kinh tế tại địa phương.

Phát huy lợi thế bản địa bằng tư duy sản xuất hiện đại

Hành trình phát triển của miến dong Tài Hoan cho thấy nông sản vùng cao có thể tạo dựng chỗ đứng trên thị trường khi được đầu tư đúng hướng. Từ một nghề truyền thống, sản phẩm đã từng bước được chuẩn hóa, xây dựng thương hiệu, mở rộng hệ thống tiêu thụ và tiếp cận thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, nhân rộng mô hình không có nghĩa là áp dụng máy móc một công thức cho mọi địa phương. Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu, tập quán sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường khác nhau. Vì vậy, việc lựa chọn công nghệ và phương thức kinh doanh cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, phù hợp với năng lực của người dân và điều kiện của từng vùng nguyên liệu.

Để những mô hình tương tự phát triển bền vững, cần tiếp tục hỗ trợ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng lực quản trị hợp tác xã, phát triển thương hiệu và tăng cường kết nối thị trường. Việc đào tạo kỹ năng số cũng cần gắn với hoạt động kinh doanh cụ thể, giúp người dân không chỉ biết sử dụng nền tảng trực tuyến mà còn có thể tổ chức bán hàng, quản lý thông tin và duy trì quan hệ với khách hàng.

jqoo8w4lgioanoxk0gij3fvscjlw2rfcjcu7riwiaqcu5dj8wbee5e1r-mkun896zdklva7crhchogaydey-ik5zwg4wubhqg6uhe6wg2dcjewtlygmboeujgz-mfwdu4n5odgptlrceeahdrohuwidpuexpcqi2eht4gw1uzywxa-6ggd2-yrszauuu6zng.jpg
Sản phẩm miến dong Tài Hoan được đóng gói, chuẩn bị đưa tới các kênh phân phối. Ảnh; Liên minh HTX tỉnh Bắc Kạn.

Đồng thời, hiệu quả của mô hình cần được đánh giá trên cơ sở những chỉ tiêu thực tế như năng suất, chi phí, lợi nhuận, thu nhập người lao động và lợi ích của các hộ liên kết. Đây là căn cứ để xác định mức độ thành công và khả năng nhân rộng, thay vì chỉ dựa vào quy mô sản xuất hoặc danh hiệu sản phẩm.

Từ câu chuyện miến dong Tài Hoan, có thể thấy khoa học, công nghệ và kinh tế số không phải những khái niệm xa vời đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chúng có thể bắt đầu từ việc cải tiến một công đoạn chế biến, tổ chức lại vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu hoặc mở thêm một kênh tiếp cận khách hàng.

Khi những giải pháp ấy được triển khai đồng bộ, lợi thế bản địa có cơ hội chuyển hóa thành giá trị kinh tế cụ thể. Những sản vật vốn gắn với đời sống của cộng đồng không chỉ được gìn giữ mà còn có thể trở thành ngành hàng có sức cạnh tranh, tạo việc làm và mở ra sinh kế bền vững.

Miến dong Tài Hoan vì thế là một trường hợp tiêu biểu để tham khảo trong quá trình phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số: lấy người dân làm chủ thể, lấy lợi thế địa phương làm nền tảng, lấy khoa học, công nghệ và thị trường làm động lực nâng cao giá trị sản phẩm.

Đó cũng là hướng đi cần được tiếp tục khuyến khích để nhiều sản phẩm đặc trưng của miền núi vượt qua giới hạn của thị trường nhỏ lẻ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và góp phần nâng cao đời sống người dân.

Xem thêm

Ninh Bình: Đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu

Ninh Bình: Đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu

(CLO) Ngày 31/10, xã Vụ Bản (tỉnh Ninh Bình) phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Viện Sử học Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu (5/11/1901 - 5/11/2026), kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và đón Bằng xếp hạng Di tích quốc gia Nhà lưu niệm Trần Huy Liệu.

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Sẽ cung cấp sách giáo khoa miễn phí, dùng chung từ năm học 2028-2029

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Sẽ cung cấp sách giáo khoa miễn phí, dùng chung từ năm học 2028-2029

(CLO) Giải trình trước Quốc hội sáng nay, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã làm rõ 6 nhóm vấn đề "nóng" được cử tri và đại biểu quan tâm. Trong đó, Bộ trưởng đưa ra lộ trình cụ thể về việc hoàn thiện một bộ sách giáo khoa dùng chung, cấp miễn phí, đồng thời nhấn mạnh các quyết sách giải quyết tình trạng thiếu giáo viên, bạo lực học đường và gian lận thi cử.

‘Căn bệnh’ độ trễ chính sách và bài học từ một quán hủ tiếu

‘Căn bệnh’ độ trễ chính sách và bài học từ một quán hủ tiếu

(CLO) Dẫn chứng bốn câu chuyện thực tiễn, đại biểu Quốc hội Trần Thị Vân khẳng định điểm nghẽn kinh tế hiện nay nằm ở cơ chế phản ứng chậm và tâm lý đùn đẩy trách nhiệm, chứ không phải do thiếu chính sách. Để khắc phục, bà kiến nghị cần dùng "độ trễ chính sách" làm thước đo đánh giá cán bộ và đổi mới tư duy quản lý nhằm bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm.

Đại biểu Trịnh Xuân An: Chấm dứt cảnh ‘thấp thỏm’ mùa thi, thước đo tăng trưởng phải là sự tích lũy của người dân

Đại biểu Trịnh Xuân An: Chấm dứt cảnh ‘thấp thỏm’ mùa thi, thước đo tăng trưởng phải là sự tích lũy của người dân

(CLO) Phát biểu tại nghị trường, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế phải được đo lường bằng sự tích lũy thực chất của người dân. Đồng thời, ông kiến nghị một tầm nhìn dài hạn, bài bản cho giáo dục để chấm dứt cảnh phụ huynh và học sinh "thấp thỏm" mỗi mùa thi.

Xây dựng chuyên trang 'Hàng Việt vì người Việt' trên các cơ quan báo chí, truyền thông

Xây dựng chuyên trang 'Hàng Việt vì người Việt' trên các cơ quan báo chí, truyền thông

(CLO) Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu xây dựng, vận hành và phát triển chuyên trang "Hàng Việt vì người Việt" trên các cơ quan truyền thông, báo chí cập nhật thông tin về sản phẩm, doanh nghiệp, địa phương, điểm bán và các hoạt động của Chương trình.

Hòa thượng Thích Thanh Quyết: ‘Vị tha là sống mãi, phúc đức là vô lượng’

Hòa thượng Thích Thanh Quyết: ‘Vị tha là sống mãi, phúc đức là vô lượng’

(CLO) Phát biểu tại nghị trường chiều 30/10, Hòa thượng Thích Thanh Quyết (đoàn Quảng Ninh) ủng hộ dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, tạng và bày tỏ sự thấu cảm với những áp lực của ngành Y tế. Ông cũng đưa ra các đề xuất căn cơ cho ngành giáo dục và cảnh báo hệ lụy từ mặt trái của xã hội số.

Giải mã nghịch lý nền kinh tế 'khát vốn': Gỡ vướng pháp lý, mở ‘đường dẫn vốn’ cho doanh nghiệp

Giải mã nghịch lý nền kinh tế 'khát vốn': Gỡ vướng pháp lý, mở ‘đường dẫn vốn’ cho doanh nghiệp

(CLO) Nền kinh tế khát vốn dài hạn dù tiền gửi dân cư và lượng vàng tích trữ đang ở mức kỷ lục. Bóc tách nguyên nhân khiến hàng ngàn dự án tồn đọng và doanh nghiệp tìm đường ra nước ngoài, các đại biểu Quốc hội nhấn mạnh phải tháo gỡ triệt để điểm nghẽn thể chế, siết kỷ luật ngân sách để mở đường dẫn vốn vào sản xuất.

Bịt lỗ hổng ‘dự án ma’, minh bạch thông tin thị trường bất động sản

Bịt lỗ hổng ‘dự án ma’, minh bạch thông tin thị trường bất động sản

(CLO) Trước những băn khoăn về tình trạng “dự án ma”, rao bán bất động sản khi chưa đủ điều kiện, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) đã quy định chặt chẽ hơn về đặt cọc, điều kiện thực hiện dự án và xây dựng cơ sở dữ liệu, hướng tới bảo vệ quyền lợi người mua.

TP.HCM chính thức thông qua quy hoạch tầm nhìn 100 năm, hình thành 5 cực tăng trưởng mới

TP.HCM chính thức thông qua quy hoạch tầm nhìn 100 năm, hình thành 5 cực tăng trưởng mới

(CLO) Với diện tích hơn 6.772km² và dân số dự báo vượt 27 triệu người vào năm 2050, TP.HCM định hướng tổ chức không gian phát triển theo mô hình đa cực, đa tâm. Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm vừa được HĐND thành phố thông qua xác định 5 cực động lực cùng các trung tâm vệ tinh, hướng đến xây dựng đô thị toàn cầu.

Đề xuất sáng kiến của người dân: Phải xử lý đúng hạn, phản hồi rõ ràng

Đề xuất sáng kiến của người dân: Phải xử lý đúng hạn, phản hồi rõ ràng

(CLO) Người dân có quyền đề xuất sáng kiến vì lợi ích cộng đồng, nhưng quyền đó chỉ thực sự có ý nghĩa khi kiến nghị được xem xét đúng hạn và có phản hồi rõ ràng. Đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ trách nhiệm xử lý, tránh tình trạng người dân gửi ý kiến rồi phải chờ đợi, tự đi hỏi kết quả.

Cỡ chữ bài viết: