Khát vọng vươn xa và "điểm nghẽn" công nghệ nơi rẻo cao
Thời gian qua, bức tranh kinh tế tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đã xuất hiện nhiều điểm sáng tích cực nhờ sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực kinh tế tập thể. Nhiều hợp tác xã (HTX) vùng cao đã chủ động thoát khỏi tư duy sản xuất manh mún, tự cấp tự túc để quy hoạch và xây dựng những vùng nguyên liệu tập trung có chất lượng cao, mang đậm bản sắc bản địa như quế, cà phê, chè cổ thụ hay các loại dược liệu quý hiếm.
Tuy nhiên, một thực tế đáng trăn trở là giá trị gia tăng của nông sản vùng cao vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Dù sở hữu nguồn nguyên liệu dồi dào và sạch, nhưng phần lớn các HTX vẫn loay hoay ở khâu tiêu thụ hoặc chỉ dừng lại ở việc xuất bán nguyên liệu thô với giá trị kinh tế thấp.
Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự hạn chế về công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch và sự thiếu hụt kỹ năng số trong quản trị cũng như xúc tiến thương mại. Bên cạnh đó, tình trạng "lõm sóng", "nghẽn thông tin" tại các bản làng xa xôi cũng vô tình tạo ra một rào cản vô hình, ngăn cách vùng nguyên liệu chất lượng với thị trường tiêu thụ hiện đại.
Trước thực tế đó, nhằm thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN giai đoạn 2026–2030, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Hướng dẫn số 3930/HD-BKHCN.
Văn bản này tập trung vào hai nhóm nhiệm vụ cốt lõi: phát triển hạ tầng số, bưu chính công cộng phục vụ chính quyền số; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật và nhân rộng mô hình “thôn thông minh”. Đây được xem là lời giải toàn diện cho bài toán nâng tầm kinh tế tập thể nơi rẻo cao.
Xóa "vùng lõm" thông tin, đưa cáp quang và sóng 5G về tận thôn bản
Để kinh tế số thực sự bén rễ tại miền núi, hạ tầng số bắt buộc phải đi trước một bước. Một trong những nội dung mang tính đột phá nhất của Hướng dẫn số 3930/HD-BKHCN chính là mục tiêu chuẩn hóa và phủ sóng toàn diện hạ tầng viễn thông tại khu vực nông thôn, miền núi với những chỉ tiêu định lượng hết sức cụ thể.
Theo lộ trình đến năm 2030, 100% các thôn trên địa bàn xã phải có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ viễn thông di động, cố định cùng mạng Internet băng rộng. Chương trình cũng đặt mục tiêu tỷ lệ hộ gia đình có khả năng tiếp cận cáp quang đạt tuyệt đối 100%, mạng băng rộng di động thế hệ mới 5G phủ sóng tới 99% dân số, đồng thời phấn đấu tối thiểu 90% số thuê bao di động tại các thôn bản sử dụng điện thoại thông minh.
Song hành cùng mạng lưới viễn thông, hạ tầng bưu chính cơ sở cũng được đầu tư nâng cấp đồng bộ. Mỗi xã sẽ duy trì tối thiểu một điểm phục vụ bưu chính công cộng được trang bị đầy đủ thiết bị hiện đại như máy tính, máy quét và kết nối Internet tốc độ cao.
Những điểm bưu chính này không chỉ đảm nhận vai trò giao nhận hàng hóa mà còn trở thành cánh tay nối dài hỗ trợ người dân và thành viên các HTX thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến ngay tại địa phương mà không cần phải đi xa.
Đối với khu vực kinh tế tập thể vùng đồng bào DTTS&MN, việc hoàn thiện hạ tầng số không đơn thuần là xóa bỏ tình trạng "lõm sóng", mà quan trọng hơn là tạo lập tiền đề kỹ thuật vững chắc. Khi Internet tốc độ cao và thiết bị thông minh trở nên phổ cập, các HTX sẽ có đủ công cụ để ứng dụng công nghệ thông tin vào quản trị điều hành, thực hiện dán tem truy xuất nguồn gốc điện tử minh bạch và trực tiếp giao thương trực tuyến với khách hàng trên khắp cả nước.
Trao "cần câu" công nghệ và kỹ năng số cho các chủ thể kinh tế
Hạ tầng kết nối hiện đại là điều kiện cần, nhưng năng lực làm chủ công nghệ của chính cộng đồng địa phương mới là điều kiện đủ để tạo ra sự bứt phá. Do đó, bên cạnh việc đầu tư phần cứng, Hướng dẫn số 3930/HD-BKHCN đặc biệt chú trọng đến các giải pháp trực tiếp nâng cao năng lực cho các chủ thể kinh tế tại địa bàn khó khăn.
Thông qua cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu, các địa phương sẽ tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn kỹ năng số và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới sát với nhu cầu thực tế của từng doanh nghiệp, HTX và hộ sản xuất. Trọng tâm hỗ trợ được đặt vào các khâu then chốt nhất của chuỗi giá trị nông sản, bao gồm sản xuất, chế biến, bảo quản sau thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh đó, chương trình cũng tạo điều kiện thúc đẩy các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bản địa, từng bước nhân rộng các mô hình “thôn thông minh” và các mô hình ứng dụng công nghệ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Việc triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ khoa học - kỹ thuật theo Hướng dẫn 3930/HD-BKHCN được đánh giá sẽ tạo ra một "cú hích" quan trọng vào đúng điểm yếu nhất của các HTX miền núi hiện nay. Khi được tiếp sức về công nghệ, các HTX sẽ giải quyết được bài toán nâng cao tỷ lệ chế biến sâu để gia tăng giá trị sản phẩm, thay vì chỉ bán nguyên liệu thô như trước.
Đồng thời, kỹ năng số được trang bị bài bản sẽ giúp bà con biết cách xây dựng thương hiệu nông sản an toàn, tự tin đưa các sản phẩm OCOP lên sàn thương mại điện tử và kết nối trực tiếp với các doanh nghiệp tiêu thụ lớn mà không bị phụ thuộc vào thương lái trung gian.
Sự cộng hưởng chặt chẽ giữa một hạ tầng số hiện đại, thông suốt và năng lực làm chủ khoa học công nghệ của cộng đồng DTTS&MN chính là động lực then chốt để kinh tế tập thể vùng cao chuyển mình mạnh mẽ.
Qua đó, các HTX không chỉ khẳng định vững chắc vai trò là "cầu nối" kinh tế quan trọng tại cơ sở, mà còn trực tiếp dẫn dắt đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững, từng bước vươn lên làm giàu chính đáng từ chính những thức quà quý giá của núi rừng quê hương.