Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) nông, lâm, thủy sản, từ khi chính thức đưa Hệ thống TXNG nông sản vào sử dụng ngày 1/7/2026 đến nay, dữ liệu của 48.754 sản phẩm đã được cập nhật lên hệ thống.
Cụ thể, đã có 9 doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ TXNG thực hiện kết nối với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Bên cạnh đó, 4 doanh nghiệp sản xuất, thương mại nông sản đã kết nối hệ thống TXNG do doanh nghiệp tự phát triển với hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Năm tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk đã báo cáo bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện TXNG. Tổng cộng, 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm của 19 doanh nghiệp đã được thực hiện TXNG và cập nhật dữ liệu vào Hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tính lũy kế kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Hệ thống TXNG nông sản, các địa phương và doanh nghiệp đã đề nghị kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống. Đến nay, có thêm 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ TXNG gửi hồ sơ đăng ký kết nối với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Các hồ sơ đang được xem xét, phê duyệt để triển khai kết nối theo quy định.
Có thêm 5 tỉnh, thành phố báo cáo kết quả triển khai TXNG nông sản, nâng tổng số địa phương đã có báo cáo lên 24/34 tỉnh, thành phố. Lũy kế, tổng dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp TXNG và các tỉnh, thành phố kết nối, cập nhật vào Hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường gồm 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm, của 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.
Tại Hà Nội, hệ thống TXNG của thành phố hiện có trên 3.000 cơ sở và hơn 12.000 sản phẩm. Trong số này, khoảng 5% sản phẩm đã đáp ứng đầy đủ thông tin theo yêu cầu kết nối với Hệ thống TXNG của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tại Thái Nguyên, hệ thống quản lý chất lượng nông sản có 533 tài khoản, 5.136 cơ sở, 222 vùng sản xuất và quản lý 149 mã số vùng trồng. Có 6 doanh nghiệp, hợp tác xã đáp ứng yêu cầu kết nối với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Hưng Yên đã kết nối, tích hợp và đồng bộ dữ liệu qua API, với 536 đơn vị, 1.179 sản phẩm và 76 lô sản xuất.
Tại Quảng Ninh, hệ thống đã đồng bộ dữ liệu của 1.097 cơ sở, 2.689 sản phẩm và 78 lô sản xuất, đạt 100% dữ liệu sẵn có trên hệ thống TXNG của tỉnh.
Đắk Lắk bước đầu thực hiện kết nối, đồng bộ dữ liệu của một hợp tác xã sản xuất sầu riêng với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.