Đặc biệt, hai mục tiêu trên đều được xác định là một trong những trụ cột quan trọng, thể hiện rõ cách tiếp cận mới của Đảng và Nhà nước, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang trao cơ hội cho người dân để họ tự vươn lên, làm chủ cuộc sống bằng ý chí nghị lực và tri thức cùng khát vọng phát triển qua đó từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Giải bài toán đầu vào của sinh kế
Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự chung tay của toàn xã hội trong triển khai thực hiện Tiểu dự án 1 của Dự án 3 về hỗ trợ phát triển sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 đã và đang mang lại những kết quả tích cực.
Theo Báo cáo của Bộ nông nghiệp và Môi trường, tính đến nay, Tiểu dự án 1 triển khai trên diện rộng với hơn 6.174 dự án sản xuất nông nghiệp (trong đó: trồng trọt 862 dự án, chăn nuôi 4.940 dự án, lâm nghiệp 185 dự án, khai thác ngư nghiệp 12 dự án, nuôi trồng thủy sản 24 dự án, diêm nghiệp 01 dự án và 150 dự án khác), cho khoảng 99.594 hộ tham gia (trong đó: hộ nghèo 51.058 hộ, hộ cận nghèo 35.438 hộ, hộ mới thoát nghèo 5.002 hộ; 7.456 hộ chính sách và dân tộc thiểu số). Từ trồng trọt, chăn nuôi đến lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, mỗi địa phương trên cả nước đều linh hoạt vận dụng, gắn dự án với quy hoạch phát triển sản xuất, đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của mỗi địa phương
Cùng với đó, Tiểu dự án 1 cũng đã tổ chức trên 1.940 lớp cho khoảng 58.243 người tập huấn, tư vấn quản lý tiêu thụ nông sản, thí điểm, nhân rộng các giải pháp sáng kiến phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị hiệu quả, gắn với quy hoạch phát triển sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu (trong đó cán bộ làm công tác giảm nghèo 2.231 người; còn lại là người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và hộ khác).
Tính đến nay, Tiểu dự án 1 triển khai trên diện rộng với hơn 6.174 dự án sản xuất nông nghiệp (trong đó: trồng trọt 862 dự án, chăn nuôi 4.940 dự án, lâm nghiệp 185 dự án, khai thác ngư nghiệp 12 dự án, nuôi trồng thủy sản 24 dự án, diêm nghiệp 01 dự án và 150 dự án khác)
Kết quả từ thực tiễn cũng cho thấy, các mô hình hỗ trợ sản xuất đã tạo ra những chuyển động đáng kể trong tư duy và phương thức sản xuất. Nếu trước đây, phần lớn người dân canh tác manh mún, tự cung tự cấp, thì nay đã bắt đầu hình thành mô hình liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Tại nhiều địa phương, việc chăn nuôi trâu bò, dê, gà, vịt hay nuôi cá lồng đã mang lại thu nhập ổn định, giúp hàng nghìn hộ nghèo từng bước cải thiện đời sống. Các mô hình trồng cây dược liệu, cây ăn quả không chỉ tăng thu nhập, mà còn mở ra hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp bền vững.
Trong đó, điểm đáng ghi nhận là sự thay đổi trong tư duy của người nông dân trên chính đồng đất vốn được gọi là khó trước đây. Kể từ khi có sự hỗ trợ, người dân đã được tiếp cận và tham gia thực hiện, từ đó người nông dân đã biết tính toán giá trị kinh tế, đầu tư khoa học, chủ động kết nối thị trường thay vì trông chờ hỗ trợ. Điều đáng nói là không chỉ tăng năng suất, nhiều mô hình đã mở rộng việc làm phi nông nghiệp tại nông thôn, thúc đẩy kinh tế hộ và hợp tác xã phát triển, tạo nên chu trình tương hỗ giữa phát triển sản xuất, tăng thu nhập, giảm nghèo,tái đầu tư.
Đặc biệt, các hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo hay phụ nữ làm chủ hộ đều được tạo điều kiện tiếp cận mô hình. Nhiều phụ nữ trước kia chỉ quanh quẩn với việc nội trợ, nay đã mạnh dạn đứng ra tổ chức sản xuất, trở thành trụ cột kinh tế của gia đình. Đồng bào dân tộc thiểu số, nhóm thường gặp khó khăn trong tiếp cận chính sách cũng đã có nhiều cơ hội để cải thiện sinh kế. Ngoài ra, Tiểu dự án 1 còn tạo hiệu ứng lan tỏa, khích lệ tinh thần đoàn kết cùng nhau thi đua trong cộng đồng. Khi một vài hộ áp dụng thành công mô hình chăn nuôi hay trồng trọt, các hộ khác cũng học hỏi và làm theo. Nhờ đó, nhiều vùng quê trên cả nước đã hình thành được các cụm sản xuất nhỏ, từng bước liên kết, hỗ trợ nhau phát triển.
Đến cải thiện dinh dưỡng, lấy con người làm trung tâm
Có thể nói, việc triển khai các nội dung cải thiện dinh dưỡng thuộc Tiểu dự án 2 đã và đang góp phần quan trọng nâng cao nhận thức về dinh dưỡng cho người nghèo, giảm mạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em dưới 16 tuổi giảm (còn 25,42%, cách xa so với chỉ tiêu dưới 34%), nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Số liệu thống kế cũng ghi nhận, đã có 146.098 trẻ em dưới 5 tuổi được bổ sung vi chất dinh dưỡng; 646.057 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được tư vấn dinh dưỡng; 169.119 phụ nữ có thai được bổ sung vi chất dinh dưỡng; 34.333 trẻ em được theo dõi và quản lý suy dinh dưỡng cấp tính tại cộng đồng; 458.405 trẻ em từ 5 đến 16 tuổi được bổ sung vi chất dinh dưỡng; 998.902 trẻ em từ 5 đến dưới 16 tuổi được tư vấn dinh dưỡng.
Những thống kê trên cũng cho thấy tầm quan trọng và tính lan tỏa của chính sách y tế cộng đồng gắn với công tác giảm nghèo… Đặc biêt, thông qua đó, nhận thức của người dân về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em sẽ được chú trọng và nâng lên. Từ đó, giúp nâng cao chất lượng dân số, giảm chi phí y tế dài hạn, góp phần quan trọng vào chỉ tiêu phát triển con người (HDI).
Từ những kết quả trong triển khai hai Tiểu dự án của Dự án 3 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2021 – 2025 và thực tiễn mang lại, có thể khẳng định, qua các năm triển khai đã cho thấy hướng đi đúng đắn trong chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác giảm nghèo. Bởi, cốt lõi của giảm nghèo đa chiều là "trang bị năng lực" để người dân “tự câu cá”, thông qua việc họ được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin; họ sẽ có năng lực để tự tạo sinh kế, tự vươn lên và quan trọng hơn là tự chống chọi với những rủi ro có thể xảy ra trong lâu dài…
Hỗ trợ sản xuất thì giúp người dân có sinh kế, có việc làm, tạo ra thu nhập; còn cải thiện dinh dưỡng giúp người dân có sức khỏe có tri thức. Hai yếu tố cốt lõi này vừa bổ trợ, vừa gắn kết giúp người dân vươn lên, thoát nghèo một cách bền vững.