Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa đạt 807,33 triệu USD

(CLO) Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa trong thời gian qua đã đạt 807,33 triệu USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2018. Nhật Bản là thị trường lớn nhất tiêu thụ các loại sản phẩm nhựa của Việt Nam, chiếm 22,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này.
Ngành công nghiệp nhựa, in ấn và đóng gói bao bì trong nước và xuất khẩu được đánh giá còn nhiều tiềm năng phát triển (Ảnh TL)

Ngành công nghiệp nhựa, in ấn và đóng gói bao bì trong nước và xuất khẩu được đánh giá còn nhiều tiềm năng phát triển (Ảnh TL)

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, sản phẩm nhựa của Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài sau khi sụt giảm mạnh trên 45% trong tháng 2/2019, thì sang tháng 3/2019 kim ngạch tăng mạnh trở lại 70,4% so với tháng 2 đạt 302,54 triệu USD và so với tháng 3/2018 cũng tăng 20%.

Nhật Bản là thị trường lớn nhất tiêu thụ các loại sản phẩm nhựa của Việt Nam, chiếm 22,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 178,1 triệu USD, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2018. Riêng tháng 3/2019 xuất sang thị trường này cũng tăng mạnh 55,4% so với tháng liền kề trước đó và tăng 14,4% so với tháng 3/2018, đạt 66,33 triệu USD.

EU là thị trường đứng thứ 2 về kim ngạch, chiếm 18%, đạt 145,46 triệu USD, tăng 57,7%; tiếp sau đó là thị trường Mỹ chiếm 15,9%, đạt 128,55 triệu USD, tăng 31,3%; sang thị trường Đông Nam Á chiếm 14,8%, đạt 119,76 triệu USD, tăng 80,4%.

Xét về mức tăng trưởng xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm ngoái cho thấy đa số các thị trường tăng kim ngạch, trong đó tăng mạnh ở một số thị trường như: Hồng Kông tăng 171,1%, đạt 35,56 triệu USD; Ấn Độ tăng 159,2%, đạt 19,3 triệu USD; Mexico tăng 68,9%, đạt 5,01 triệu USD; Thụy Sĩ tăng 59,4%, đạt 0,42 triệu USD.

Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm nhựa sụt giảm mạnh ở các thị trường như: Ukraine giảm 60,5%, đạt 0,57 triệu USD; Italia giảm 57,7%, đạt 3,39 triệu USD; Lào giảm 39,7%, đạt 1,79 triệu USD.

Ngành công nghiệp nhựa, in ấn và đóng gói bao bì trong nước và xuất khẩu được đánh giá còn nhiều tiềm năng phát triển để các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư khai thác thị trường. Trong 10 năm qua, ngành nhựa có mức tăng trưởng 15-20%/năm, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nhựa liên tục tăng mạnh những năm gần đây, đạt mức trung bình từ 14-15%/năm.

Theo tạp chí Mordor Intelligence Research, thị trường nhựa Việt Nam dự báo đạt tỷ lệ tăng trưởng luỹ kế hàng năm (CAGR) vào khoảng 6,63% trong giai đoạn 2018-2023, công nghệ ép phun chiếm tỷ lệ cao nhất. Công nghệ này được sử dụng để sản xuất các bộ phận nhựa có thành mỏng như thiết bị gia dụng, điện tử gia dụng, bảng điều khiển ô tô,... Lĩnh vực công nghệ đóng gói, công nghiệp ô tô, điện tử và các ngành công nghiệp khác dự kiến sẽ dẫn đầu thị trường Việt Nam trong giai đoạn này.

Có thể thấy rằng thị trường Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng rất lớn khi các thương hiệu hàng đầu như Foxconn, Samsung cùng nhiều tên tuổi nổi tiếng trong ngành ô tô đã đầu tư lớn vào xây dựng nhà máy tại Việt Nam. Việc Việt Nam ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã mang đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm từ nhựa. Các đối tác đang chuyển dần đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam để tận dụng chi phí sản xuất rẻ; thuế xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu (EU)... được hưởng nhiều ưu đãi. Nhu cầu nhập khẩu sản phẩm nhựa tại thị trường EU, Nhật vẫn ở mức cao, khách hàng ngày càng ưa thích sản phẩm nhựa Việt Nam.

Ngành công nghiệp nhựa, in ấn và đóng gói bao bì trong nước và xuất khẩu được đánh giá còn nhiều tiềm năng phát triển để các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư khai thác thị trường.

Kỳ vọng lớn nhất của ngành nhựa Việt hiện nay đó chính là những hiệp định thương mại như Thương mại tự do Việt - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP),... Khi các hiệp định này có hiệu lực, cũng đồng nghĩa cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt sẽ rộng mở hơn, bức tranh ngành nhựa Việt ra thế giới sẽ lớn hơn.

Nhật Phương

Xem thêm

VNECO.SSM (SSM) họp cổ đông bất thường sau 2 đơn từ nhiệm, nợ phải trả tăng hơn 50% sau quý I

VNECO.SSM (SSM) họp cổ đông bất thường sau 2 đơn từ nhiệm, nợ phải trả tăng hơn 50% sau quý I

(CLO) CTCP Chế tạo kết cấu thép VNECO.SSM (mã chứng khoán: SSM) dự kiến tổ chức ĐHĐCĐ bất thường sau khi một thành viên HĐQT kiêm Kế toán trưởng và một thành viên Ban kiểm soát cùng xin từ nhiệm. Diễn biến nhân sự diễn ra trong lúc doanh thu quý I/2026 của SSM tăng hơn gấp đôi nhưng vẫn lỗ hơn 1,1 tỷ đồng, nợ phải trả cũng tăng hơn 50% so với đầu năm.

DIC Corp (DIG) sắp phát hành gần 48 triệu cổ phiếu trả cổ tức, nợ phải trả vượt 10.300 tỷ đồng

DIC Corp (DIG) sắp phát hành gần 48 triệu cổ phiếu trả cổ tức, nợ phải trả vượt 10.300 tỷ đồng

(CLO) Tổng CTCP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp, mã chứng khoán: DIG) sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ tức năm 2025 bằng cổ phiếu với tỷ lệ 6%. Trong nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận sau thuế hơn 133 tỷ đồng, gấp gần 20 lần cùng kỳ, nhưng nợ phải trả cũng vượt 10.300 tỷ đồng.

Cảng Thị Nại (TNP) sắp chi hơn 18 tỷ đồng trả cổ tức, nợ ngắn hạn cuối năm 2025 tăng gần 130%

Cảng Thị Nại (TNP) sắp chi hơn 18 tỷ đồng trả cổ tức, nợ ngắn hạn cuối năm 2025 tăng gần 130%

(CLO) CTCP Cảng Thị Nại (mã chứng khoán: TNP) dự kiến chi hơn 18 tỷ đồng trả cổ tức năm 2025 bằng tiền với tỷ lệ 26%, mức cao nhất kể từ năm 2017. Động thái này diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận sau thuế năm 2025 của doanh nghiệp tăng gần 120%, nhưng nợ phải trả cũng tăng gấp đôi so với cùng kỳ với phần lớn là nợ ngắn hạn.

Việt Phát (VPG) tiếp tục bị cưỡng chế gần 5 tỷ đồng tiền thuế, doanh thu quý II giảm gần 4.000 tỷ

Việt Phát (VPG) tiếp tục bị cưỡng chế gần 5 tỷ đồng tiền thuế, doanh thu quý II giảm gần 4.000 tỷ

(CLO) CTCP Đầu tư Thương mại Xuất nhập khẩu Việt Phát (mã chứng khoán: VPG) tiếp tục nhận các quyết định cưỡng chế thuế trong bối cảnh hoạt động kinh doanh thu hẹp. Trong quý II/2026, doanh thu của doanh nghiệp chỉ còn gần 400 triệu đồng, trong khi cùng kỳ năm trước đạt hơn 4.370 tỷ đồng.

Thống đốc Phạm Đức Ấn: “Nâng cao năng suất, giảm chi phí xã hội, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ”

Thống đốc Phạm Đức Ấn: “Nâng cao năng suất, giảm chi phí xã hội, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ”

(CLO) “Chuyển đổi số ngân hàng không chỉ nhằm hiện đại hóa bản thân ngành Ngân hàng mà phải góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí xã hội, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế”, Thống đốc Phạm Đức Ấn nhấn mạnh.

Cỡ chữ bài viết: