Những nghịch lý đắng chát

(NB&CL) “Ở đâu trồng nhiều lúa nhất, ở đó tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao nhất, người dân ở đó cũng nghèo nhất”, Tiến sĩ Trần Hữu Hiệp - người có nhiều nghiên cứu, báo cáo về kinh tế - xã hội ĐBSCL đã đúc kết đắng chát như vậy.

1. Chủ trì Hội nghị tổng kết 10 năm Đề án an ninh lương thực (ANLT) quốc gia vào sáng 18/3, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ quan điểm “Phải chốt cứng diện tích trồng lúa, sản lượng lương thực hằng năm và tăng cường khả năng dự trữ”. Một lần nữa, ANLT được xác định là vấn đề sống còn, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 đang hoành hành toàn cầu và vấn đề hạn, xâm nhập mặn đang diễn ra khốc liệt tại vựa lúa ĐBSCL.

Do hạn mặn, nhiều cánh đồng lúa ở ĐBSCL chỉ thu về phần nhiều là rơm rạ - Ảnh. Lê Thế Thắng.

Do hạn mặn, nhiều cánh đồng lúa ở ĐBSCL chỉ thu về phần nhiều là rơm rạ - Ảnh. Lê Thế Thắng.

Vấn đề ANLT luôn luôn và mãi mãi là vấn đề hết sức hệ trọng đối với mọi quốc gia, nhất là trong điều kiện bất ổn chính trị, an ninh phi truyền thống, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… Và trong các cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, môi trường, nông nghiệp, nông thôn trở thành nơi trú ẩn tìm về, một hệ đệm, giá đỡ cho nền kinh tế.

Hạt gạo và các loại cây lương thực vẫn là nguồn nuôi sống hằng ngày của gần trăm triệu dân Việt Nam. Việt Nam từ quốc gia thiếu đói đã vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu gạo, đóng góp cho khoảng 20% lượng gạo thương mại toàn cầu và ANLT trên thế giới.

ĐBSCL được xem là vựa lúa của cả nước, nhưng việc “chốt cứng” ANLT sẽ làm mềm hóa kinh tế nông dân. Giờ đây, người nông dân trồng lúa ĐBSCL phụ thuộc rất nhiều vào các cửa hàng vật tư nông nghiệp, giá lúa bị thương lái ép giá ngay tại đồng, thậm chí từ đầu vụ.

Cần nhớ rằng Việt Nam sản xuất ra gần 30 triệu tấn gạo, trong khi gạo sử dụng trong nước khoảng 9 triệu tấn, còn lại đem xuất khẩu. Thế nên, sản xuất nhiều gạo hơn không hẳn là giải pháp cho ANLT, giúp nông dân làm giàu mà cần cách tiếp cận đa ngành trước những thách thức về an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu, thiên tai hạn mặn đang đầy bất an mới là bức thiết.

2. Trận hạn mặn khốc liệt nhất trong lịch sử 2016 vẫn còn ám ảnh với những “di chứng” của nó, mà bên cạnh các thiệt hại về lúa, màu, cây ăn trái,… di chứng nặng nề nhất là trên chính thân phận con người.

Theo đó, chỉ riêng hai tỉnh Kiên Giang và Sóc Trăng đã có hơn 40.000 người bỏ quê đi làm ăn xa trong túng quẫn. Tác động của hạn mặn không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn làm mất sinh kế của người dân và đang để lại những di chứng xã hội ở nông thôn miền Tây Nam bộ, vốn được xem là một không gian an bình, đáng sống.

Cào lớp đất phù sa ngọt mặt ruộng đem bán cho san lấp ở Trà Cú, Trà Vinh. Ảnh. Lê Thế Thắng.

Cào lớp đất phù sa ngọt mặt ruộng đem bán cho san lấp ở Trà Cú, Trà Vinh. Ảnh. Lê Thế Thắng.

Di dân tự do trước các tác động tiêu cực không phải đến bây giờ mới xảy ra. Mấy năm gần đây đã có bộ phận không nhỏ nông dân, nhất là người trẻ tuổi bỏ ruộng đồng di cư lên thành thị mưu sinh. Các kết quả nghiên cứu cho thấy ĐBSCL là một trong những vùng có tỷ suất di cư cao và xu hướng tăng dần. Xét trên bình diện chung thì sự dịch chuyển lao động giữa khu vực nông thôn và đô thị trong quá trình phát triển là một tất yếu. Song, vấn đề đáng lo ngại là tình trạng di cư bị động. Đã có bằng chứng cho thấy sự chuyển đổi kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn chưa thật sự tạo được nhiều việc làm cho đại bộ phận lao động, phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống còn nhiều khó khăn về nguồn vốn và thị trường tiêu thụ.

Thiếu việc làm nông thôn, thu nhập thấp, thiếu đất sản xuất, lao động chưa qua đào tạo và sinh kế khan hiếm ở nông thôn là nguyên nhân “đẩy” lao động nông thôn ra khỏi khu vực truyền thống một cách chông chênh. Trong bối cảnh đó, cơn hạn mặn khốc liệt vừa qua như một “cú đấm hội đồng” lên “thân thể” các gia đình nông dân, nông thôn miền Tây.

Người miền Tây từ bỏ ruộng vườn để trôi dạt với đủ nghề nghiệp. Cay cực có mà cay đắng cũng có. Nhem nhuốc dầu mỡ có mà diêm dúa phấn son cũng có…

3. Những ngày hạn mặn 2020, ĐBSCL đầy rẫy những cánh đồng khô cháy, những dòng kênh nứt nẻ, những khu vườn héo rũ vì thiếu nước tưới. Nhiều nơi, người nông dân cào lớp đất mặt ruộng đem bán cho bên san lấp mặt bằng.

Theo TS Trần Hữu Hiệp, xác định lúa gạo là vấn đề chiến lược, chúng ta đã có nhiều chính sách tốt. Tuy nhiên, trong khi nhiều quốc gia sản xuất lúa có những điều chỉnh quan trọng về chính sách lúa gạo, chúng ta cũng cần “hệ điều hành mới”, giữ nguyên tắc “2 đảm bảo”, đó là ANLT và nâng cao thu nhập người trồng lúa. ANLT không chỉ là sự đảm bảo chắc chắn đủ gạo ăn và các loại cây lương thực, còn phải đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và sinh kế người nông dân.

Người nông dân Trà Vinh đào mương dẫn nước ra đồng, nước qua lọc vẫn còn mặn - Ảnh. KG

Người nông dân Trà Vinh đào mương dẫn nước ra đồng, nước qua lọc vẫn còn mặn - Ảnh. KG

Trong khi xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng và yêu cầu tiếp cận đa ngành, phối hợp liên ngành trong giải quyết vấn đề ANLT, cần xác định “3 trọng tâm”, “1 địa bàn vùng trọng điểm” và “gắn kết hệ thống” đảm bảo ANLT quốc gia. “3 trọng tâm” là lấy sản xuất nông nghiệp thích ứng điều kiện tự nhiên thay đổi và thị trường thay đổi để định hướng hệ thống đầu vào, tổ chức sản xuất. “1 địa bàn vùng trọng điểm” là ĐBSCL. Cần có chiến lược, chương trình khung cho 10 năm, kế hoạch đầu tư công về nông nghiệp và lương thực cho 5 năm và hằng năm. Có cơ chế, chính sách rõ ràng để thu hút đầu tư tư nhân, không chung chung. Đối với các vùng, miền khác công bố rõ ràng ưu tiên lĩnh vực khác có lợi thế hơn không phải là nông nghiệp. Cụ thể là cần tiếp cận linh hoạt hơn đối với quy hoạch sử dụng đất trong việc thực hiện chủ trương giữ 3,5 triệu ha đất trồng lúa để ít nhất có 35-38 triệu tấn lúa...

Tiếp đó, cần tiếp tục tăng cường chiến lược đa ngành, lồng ghép nhiều chương trình mục tiêu như xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo, chống suy dinh dưỡng trẻ em... để cùng đảm đương nhiệm vụ ANLT quốc gia và chống suy dinh dưỡng, không chỉ đặt gánh nặng lên vai người trồng lúa.

Qua đợt hạn mặn khốc liệt 2020 này, cũng như hồi năm 2016, đã đến lúc phải bỏ đi gánh nặng “an ninh lương thực” trên vai người nông dân, phải tính toán lại diện tích trồng lúa bao nhiêu là đủ cho nhu cầu trong nước, có xuất khẩu thì là những loại gạo ngon, mang lại lợi nhuận cao. Cây lúa thực sự đem đến nhọc nhằn hơn cho người nông dân, chiếm nhiều diện tích đất, tốn nhiều nước tưới nhưng giá trị rẻ mạt. “Ở đâu trồng nhiều lúa nhất, ở đó tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cũng cao nhất. Ở đâu trồng nhiều lúa nhất, người dân ở đó nghèo nhất”, TS Trần Hữu Hiệp đúc kết.

Và đó là một nghịch lý đắng chát ở miền Tây Nam bộ.

Kiên Giang

Xem thêm

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

Khi AI làm phim, ai chịu trách nhiệm cho một nền văn hóa nội dung bằng máy?

(CLO) Có những buổi tối, tôi nghe tiếng phim phát ra từ điện thoại của vợ mà phát bực. Ăn cơm xong, cô ấy lại nằm xuống xem những bộ phim ngắn với những nhân vật đẹp đến mức không thật, những câu chuyện quanh đi quẩn lại chuyện phản bội, bị coi thường, lật ngược thân phận rồi trả thù. Hết một đoạn lại “Tập tiếp theo”, và cứ thế câu chuyện kéo dài đến khuya.

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

Chỉ thị 07-CT/TW: Học Bác để làm tốt hơn việc của hôm nay

(NB&CL) Chỉ thị 07-CT/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 13/7/2026, thay thế Chỉ thị 05-CT/TW và Kết luận 01-KL/TW, đặt việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong bối cảnh phát triển mới. Khi thực tiễn đặt ra những yêu cầu mới, cách học cũng không thể chỉ dừng ở nhận thức hay những việc làm theo khuôn mẫu. Chỉ thị 07-CT/TW chuyển từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học trở về với một câu hỏi rất cụ thể: trước công việc của hôm nay, chúng ta sẽ nghĩ và làm như thế nào?

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

Tháo điểm “nghẽn”, mở rộng không gian, kiến tạo quốc gia biển mạnh!

(NB&CL) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị thống nhất, tổng hợp không gian biển quốc gia. 

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

Quy định 212: Tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động

(NB&CL) Một nền kỷ luật nghiêm minh không phải để bộ máy co lại trong tâm thế sợ sai. Khi ranh giới giữa đổi mới và vi phạm được xác lập rõ, người có trách nhiệm mới có cơ sở để quyết đoán, dám nhận việc khó và đi đến cùng với quyết định của mình. Quy định 212-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, đặt trong mạch Nghị quyết 24-NQ/TW và yêu cầu mới về quản trị thực thi, vì thế gợi mở một cách nhìn rộng hơn về kỷ luật: tạo kỷ cương để giải phóng năng lực hành động.

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

Tháo điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa

(NB&CL) Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo dựng hành lang pháp lý đồng bộ, toàn diện, tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; qua đó tạo động lực đưa các giá trị, sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn mạnh ra thế giới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

Nghị quyết 24-NQ/TW: Gỡ sức ì để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm

(NB&CL) Có những việc không khó đến mức không thể làm, nhưng vẫn chậm. Có những điểm nghẽn đã nhìn thấy, nhưng tháo gỡ rất lâu. Việc thuộc thẩm quyền vẫn chờ xin ý kiến, việc đáng lẽ phải quyết lại tiếp tục chuyển lên cấp trên. Trong khi đó, người dân chờ, doanh nghiệp chờ, dự án chờ và nguồn lực cũng chờ. Đằng sau sự chậm trễ ấy đôi khi là tâm lý sợ sai, ngại trách nhiệm, chọn cách an toàn nhất là chưa quyết. Nhưng không hành động cũng có thể làm lỡ cơ hội, kéo dài điểm nghẽn và gây lãng phí nguồn lực. Từ thực tế đó, Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra một yêu cầu rõ ràng: cán bộ phải tiên phong, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, và không thể đứng ngoài trách nhiệm với những việc thuộc thẩm quyền của mình.

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

Đích đến của đổi mới quản trị là một cuộc sống tốt hơn cho người dân

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia có thể được nói đến bằng rất nhiều khái niệm: thể chế, bộ máy, phân cấp, dữ liệu, chuyển đổi số, trách nhiệm giải trình, hiệu lực thực thi… Nhưng nếu phải tìm một câu trả lời giản dị nhất cho câu hỏi đổi mới quản trị để làm gì, có lẽ câu trả lời vẫn nằm ở đời sống của mỗi người dân: họ có được sống tốt hơn, làm việc thuận lợi hơn, được bảo vệ tốt hơn và có thêm niềm tin vào tương lai hay không.

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

Niềm tin của người dân - thước đo hiệu quả cải cách hành chính

(NB&CL) Mọi cải cách hành chính cuối cùng đều hướng tới mục tiêu củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước. Công nghệ có thể rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ ra quyết định, dữ liệu giúp bộ máy vận hành hiệu quả hơn, nhưng nền quản trị hiện đại chỉ thực sự thành công khi người dân cảm thấy được tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. 

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

Kiến tạo nền tảng cho mô hình quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Một nền quản trị quốc gia hiện đại không thể được tạo nên chỉ bằng một bộ máy tinh gọn hơn hay những nền tảng công nghệ mới. Nó đòi hỏi một nền tảng thể chế đủ khả năng mở đường cho phát triển, một bộ máy đủ năng lực biến chính sách thành kết quả và một hạ tầng dữ liệu đủ sức thay đổi phương thức ra quyết định. 

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

Từ mùa Thu 1945 đến khát vọng Việt Nam 2045

(NB&CL) Tám mươi mốt năm sau mùa Thu 1945, lịch sử đã đi qua biết bao biến động, nhưng có những giá trị càng qua thời gian càng trở nên bền vững. Đó là khát vọng độc lập, ý chí tự quyết vận mệnh dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và niềm tin rằng một đất nước, dù từng ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẫn có thể tự mình đứng dậy, lựa chọn con đường đi tới và làm nên tương lai.

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

Từ Nhà nước của Nhân dân đến nền quản trị quốc gia hiện đại

(NB&CL) Ngày 2/9/1945, giữa Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không chỉ là một văn kiện khai sinh một quốc gia độc lập sau nhiều thập niên mất nước, mà còn mở ra một nền tảng chính trị - pháp lý mới cho Nhà nước Việt Nam hiện đại, nơi quyền lực không còn thuộc về một thiểu số cai trị, mà thuộc về Nhân dân; Nhà nước được lập nên để gánh vác việc chung, bảo đảm quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của con người.

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

Nghị quyết số 18-NQ/TW: Xây dựng xã hội kỷ cương từ ý thức tự thân

(NB&CL) Kỷ cương của một xã hội không thể chỉ được giữ bằng quy định và giám sát. Khi con người biết tự điều chỉnh hành vi, tôn trọng pháp luật và nghĩ đến trách nhiệm với cộng đồng, kỷ cương mới trở thành một phần của đời sống. Từ yêu cầu xây dựng “trật tự tự thân” trong Nghị quyết số 18-NQ/TW, có thể nhìn thấy một mục tiêu sâu xa hơn: Xây dựng một xã hội mà những điều đúng không cần lúc nào cũng phải có người nhắc mới được thực hiện.

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

40 năm thu hút FDI: Đã đến lúc định vị giai đoạn mới!

(NB&CL) Sau 40 năm mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, mục tiêu cũng thay đổi. Điều chúng ta hướng tới không còn là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút những dòng vốn có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và góp phần xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. 

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

Nghị quyết 23: Mở rộng không gian cống hiến, nối dài sức mạnh Việt Nam

(NB&CL) Một quốc gia mạnh không chỉ bởi những nguồn lực trong lãnh thổ, mà còn bởi khả năng kết nối và phát huy những tiềm lực đang hiện diện bên ngoài. Trong thế giới mà tri thức, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao vận động xuyên biên giới, đường biên địa lý không thể đồng nghĩa với giới hạn của sức mạnh quốc gia.

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

Loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bứt tốc, kiên định mục tiêu tăng trưởng 2 con số

(NB&CL) Chặng đường nửa cuối năm được dự báo vẫn đầy thách thức. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cả năm, nền kinh tế phải tháo gỡ được hàng loạt nút thắt nội tại: từ kiểm soát lạm phát, khơi thông điểm nghẽn giải ngân đầu tư công, đến việc duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý và phục hồi kênh dẫn vốn trung - dài hạn...

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

Nghị quyết 20 và cuộc chuyển đổi lớn trong tư duy phát triển Việt Nam

(NB&CL) Việt Nam có biển từ hàng nghìn năm trước. Nhưng có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, biển lại được đặt vào vị trí trung tâm của tư duy phát triển như lúc này. Điều thay đổi không nằm ở chiều dài hơn ba nghìn cây số bờ biển hay diện tích vùng đặc quyền kinh tế, mà ở cách chúng ta nhìn về biển. Đó cũng là điểm nhấn lớn nhất của Nghị quyết số 20-NQ/TW: Lần đầu tiên biển không còn được đặt trong tư duy phát triển biển, mà được đặt trong tư duy phát triển quốc gia.

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

Vận hành thị trường carbon: Đòn bẩy tăng tốc kinh tế xanh

(NB&CL) Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những định hướng lớn được Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết XIV của Đảng) xác định nhằm tạo động lực cho mô hình tăng trưởng mới. Trong bối cảnh Việt Nam (VN) đang xây dựng và từng bước vận hành thị trường carbon, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm phát thải mà còn phải chuyển đổi căn bản tư duy phát triển, coi môi trường là một nguồn lực kinh tế. 

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV: Thiết kế năng lực thực thi cho một giai đoạn phát triển mới

(NB&CL) Việt Nam không thiếu chủ trương đúng, cũng không thiếu quyết tâm chính trị. Điều quyết định thành công của một giai đoạn phát triển mới nằm ở khả năng biến những chủ trương ấy thành hành động hiệu quả, để mỗi quyết sách không chỉ dừng lại trên văn bản mà tạo ra những thay đổi có thể cảm nhận trong đời sống. Từ góc nhìn đó, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV không chỉ bàn về những nhiệm vụ trước mắt, mà còn cho thấy một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy quản trị: đưa năng lực thực thi trở thành nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển mà Đại hội XIV đã xác lập.

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ: Không để sự hy sinh nào bị lãng quên

(NB&CL) Có những cuộc hành trình được đo bằng số ki-lô-mét đã đi, có những công trình được ghi dấu bằng những con số đầu tư hay tốc độ tăng trưởng. Nhưng cũng có những hành trình không thể đo bằng những thước đo thông thường, bởi đích đến của nó không chỉ là một địa điểm, mà là sự trở về của ký ức, của lòng biết ơn và của lương tri. “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là một hành trình như thế.

Cỡ chữ bài viết: