Nới điều kiện vay, rủi ro tín dụng tăng mạnh
Theo quy định tại Điều 8 Thông tư 39/2016, Ngân hàng Nhà nước xác định 10 nhóm nhu cầu vốn mà tổ chức tín dụng không được phép cho vay. Trong đó, đáng chú ý là các quy định tại khoản 8, 9 và 10.
Cụ thể, khoản 8 quy định không cho vay đối với các khoản vốn dùng để góp vốn, mua hoặc nhận chuyển nhượng phần vốn tại các doanh nghiệp chưa niêm yết trên UpCom.
Khoản 9 cũng không cho phép cấp tín dụng đối với các khoản vay nhằm góp vốn theo hợp đồng hợp tác đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh để thực hiện các dự án chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh tại thời điểm vay.
Trong khi đó, khoản 10 quy định hạn chế cho vay để bù đắp tài chính. Theo đó, khách hàng không được vay để hoàn lại các khoản chi đã tự ứng trước cho dự án, trừ trường hợp đáp ứng đồng thời các điều kiện như: chi phí phát sinh trong vòng 12 tháng trước thời điểm vay và các khoản chi này nằm trong phương án sử dụng vốn đã được tổ chức tín dụng xem xét cho vay trung, dài hạn.
Đến năm 2023, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 10, trong đó quyết định tạm ngưng hiệu lực một số điều khoản hạn chế cho vay nêu trên. Việc nới lỏng này được áp dụng từ tháng 9/2023 đến nay, nhằm phù hợp hơn với bối cảnh thực tế và hỗ trợ hoạt động tín dụng, đầu tư.
Theo thông tin từ cơ quan quản lý, trong khoảng 3 năm triển khai cơ chế nới lỏng này, các khoản vay liên quan đến các nội dung được tạm ngưng hiệu lực đã chiếm khoảng 5% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế.
Với quy mô tín dụng năm 2025 đạt hơn 18,4 triệu tỷ đồng, phần dư nợ này ước tính vào khoảng 920.000 tỷ đồng, một con số lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với hệ thống tổ chức tín dụng.
Một trong những vấn đề đáng lo ngại là khả năng kiểm soát dòng vốn sau khi giải ngân còn hạn chế. Các tổ chức tín dụng không có quyền và cũng không đủ công cụ để kiểm tra việc sử dụng vốn của “bên thứ ba” sau khi người vay chuyển tiền.
Điều này dẫn đến tình trạng, dù trên hồ sơ khoản vay được sử dụng đúng mục đích, nhưng trên thực tế dòng tiền có thể bị chuyển hướng để phục vụ các lợi ích riêng của người vay, thường là “người hưởng lợi cuối cùng”.
Rủi ro phát sinh rõ rệt trong các trường hợp góp vốn, đầu tư thông qua bên trung gian hoặc các hợp đồng “giả cách”. Khi dự án hoặc doanh nghiệp nhận vốn không hiệu quả, thậm chí thua lỗ hoặc phá sản, người vay sẽ mất khả năng thanh toán, kéo theo khoản vay trở thành nợ xấu.
Trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhà nước đang xem xét ngừng thi hành việc nới lỏng các quy định cho vay nêu trên.
Cấm cho vay là chưa theo kịp thực tiễn
Tuy nhiên, từ góc độ doanh nghiệp và thị trường, HoREA cho rằng một số quy định hiện hành, đặc biệt là khoản 8 Điều 8 Thông tư 39/2016 (liên quan đến việc không cho vay để góp vốn vào doanh nghiệp chưa niêm yết), đang bộc lộ những bất cập và chưa theo kịp thực tiễn.
Thứ nhất, quy định này chưa thực sự thống nhất với Luật Các tổ chức tín dụng 2024, trong đó cho phép tổ chức tín dụng xem xét cấp tín dụng nếu khách hàng chứng minh được mục đích sử dụng vốn hợp pháp và có đầy đủ hồ sơ, dữ liệu liên quan.
Thứ hai, quy định cũng chưa đồng bộ với Luật Doanh nghiệp 2020, vốn khẳng định quyền của tổ chức, cá nhân được góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp vào các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp đã niêm yết hay chưa.
Việc hạn chế cho vay đối với doanh nghiệp chưa niêm yết có thể tạo ra sự “lệch pha” trong chính sách và dấu hiệu thiếu bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.
Thứ ba, theo Luật Đầu tư 2025, nhà đầu tư được quyền tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn tín dụng để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh hợp pháp. Do đó, việc siết tín dụng trong trường hợp góp vốn vào doanh nghiệp chưa niêm yết có thể chưa phù hợp với định hướng thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế tư nhân.
Đặt trong bối cảnh các Nghị quyết lớn của Đảng như Nghị quyết 66 về hoàn thiện thể chế pháp luật và Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, cùng mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, HoREA cho rằng cần có sự điều chỉnh phù hợp đối với các quy định tín dụng.
Từ những phân tích trên, Hiệp hội đề xuất cơ quan quản lý xem xét bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định tại khoản 8, 9 và 10 Điều 8 Thông tư 39/2016, hoặc ban hành văn bản thay thế, nhằm đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, giảm xung đột chính sách, đồng thời vẫn kiểm soát được rủi ro tín dụng và hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.