Vụ Giám đốc, kiểm tra III (TAND Tối cao) vừa ban hành Văn bản số 196/TANDTC-GĐKTIII yêu cầu Chánh án TAND cấp tỉnh quán triệt, rút kinh nghiệm sâu sắc về các sai sót phổ biến trong xác định chi phí thẩm định và phân chia tài sản doanh nghiệp khi giải quyết các vụ án ly hôn.
Xác định chi phí thẩm định
Theo đó, qua công tác rà soát, nghiên cứu và tham mưu cho lãnh đạo TANDTC giải quyết các vụ việc, Vụ Giám đốc, kiểm tra III phát hiện một số sai sót trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn.
Cụ thể, một số Tòa án đã căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xác định nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ của các bên đương sự.
Việc áp dụng này là hoàn toàn không chính xác. Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 chỉ quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, không điều chỉnh đối với nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Để áp dụng đúng pháp luật, các Tòa án bắt buộc phải căn cứ vào khoản 3 Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Quy định này nêu rõ, trong vụ án ly hôn, nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Trường hợp cả hai bên thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí này.
Chia tài sản doanh nghiệp thiếu tính khả thi, gây khó cho thi hành án
Một sai sót khác được chỉ ra liên quan đến việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là phần vốn góp tại Công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong đó vợ và chồng là hai thành viên góp vốn.
Trong thực tiễn giải quyết vụ án Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn, có Tòa án đã quyết định giao toàn bộ phần vốn góp tại một công ty cho một bên và buộc bên nhận tài sản có giá trị lớn hơn thanh toán khoản tiền chênh lệch cho bên còn lại.
TAND Tối cao đánh giá cách giải quyết trên chưa xem xét đầy đủ tính chất pháp lý của tài sản tranh chấp và hậu quả của phương án phân chia.
Cụ thể, theo Điều 46 Luật Doanh nghiệp năm 2020, Công ty TNHH hai thành viên trở lên bắt buộc phải có từ 2 đến 50 thành viên. Việc Tòa án tuyên giao toàn bộ phần vốn góp cho một bên dẫn đến công ty chỉ còn lại 1 thành viên.
Điều này buộc doanh nghiệp phải tổ chức lại theo loại hình Công ty TNHH một thành viên và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
Phán quyết thiếu cơ sở thực tiễn này dẫn đến việc bản án rất khó thi hành, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty, người lao động, chủ nợ cùng các bên liên quan.
Để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác, TAND Tối cao đề nghị Chánh án TAND cấp tỉnh quán triệt đến toàn thể thẩm phán, tòa án cấp dưới các quy định xác định đúng căn cứ pháp lý về nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định.
Khi giải quyết chia tài sản là phần vốn góp doanh nghiệp, Tòa án phải xác định đúng đối tượng tài sản; thu thập đầy đủ hồ sơ pháp lý, điều lệ, sổ đăng ký thành viên và phải cân nhắc, đánh giá toàn diện hậu quả pháp lý của phương án phân chia đối với cơ cấu thành viên, loại hình cũng như sự vận hành của doanh nghiệp.