TP.HCM có thể đạt tăng trưởng hai con số nếu đổi mới mô hình phát triển

Để thực hiện được điều này, ông Huân cho rằng phải từ bỏ cách tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ và bất động sản, để chuyển sang nền tảng năng suất, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và các dịch vụ chất lượng cao.

Mục tiêu cao nhưng hoàn toàn khả thi

+ TP.HCM đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Theo ông, đây có phải là mục tiêu khả thi trong bối cảnh hiện nay không?

- Theo tôi, đây là mục tiêu rất cao nhưng vẫn khả thi, với điều kiện TP.HCM phải thay đổi mô hình tăng trưởng một cách thực chất. Nếu vẫn đi theo quán tính cũ, tức dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư, lao động giá rẻ, bất động sản và tăng trưởng tín dụng, thì rất khó duy trì mức tăng trưởng hai con số trong nhiều năm liên tiếp.

Nhưng nếu thành phố chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, hạ tầng hiện đại và dịch vụ tài chính chất lượng cao, thì mục tiêu này có cơ sở.

Việc TP. HCM đã đặt các chỉ tiêu như tăng trưởng GRDP bình quân 10 -11%/năm, kinh tế số chiếm 30 - 40% GRDP, TFP đóng góp khoảng 60%, chi cho R&D đạt 2 - 3% GRDP cho thấy thành phố cũng đang nhìn nhận đúng rằng muốn tăng trưởng cao thì phải dựa vào chất lượng tăng trưởng, không chỉ dựa vào lượng.

TP HCm 1
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Đại học Kinh tế TP. HCM. Ảnh: Định Trần

+ Để đạt mức tăng trưởng hai con số, theo ông, TP.HCM cần dựa vào những động lực tăng trưởng nào thay vì mô hình truyền thống?

- Về lý thuyết kinh tế học, khi một đô thị đã phát triển đến quy mô lớn như TP.HCM, tăng trưởng nhanh không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào gia tăng đầu vào, vì hiệu quả biên của vốn và lao động sẽ giảm dần.

Do đó, động lực mới phải là năng suất tổng hợp, công nghệ, đổi mới sáng tạo và độ sâu tài chính. Cụ thể, TP.HCM cần dựa vào bốn động lực chính.

Thứ nhất là năng suất lao động và TFP, vì đây là nguồn tăng trưởng bền vững nhất.

Thứ hai là kinh tế số, bởi đây là khu vực có khả năng mở rộng nhanh với chi phí biên thấp.

Thứ ba là đổi mới sáng tạo, để tạo ra sản phẩm, mô hình kinh doanh và doanh nghiệp mới có giá trị gia tăng cao.

Thứ tư là các ngành dịch vụ chất lượng cao như tài chính quốc tế, logistics hiện đại, công nghệ cao, y sinh và dịch vụ chuyên môn. Nói cách khác, thành phố phải dịch chuyển từ mô hình “mở rộng quy mô” sang mô hình “nâng cấp chất lượng tăng trưởng”.

+ Những “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay của TP.HCM là gì và cần ưu tiên tháo gỡ ra sao để tạo bứt phá, thưa ông?

- Theo tôi, có ba nhóm điểm nghẽn mang tính cấu trúc đang hạn chế tốc độ tăng trưởng của TP.HCM.

Thứ nhất là điểm nghẽn về thể chế và cơ chế vận hành. Mặc dù TP.HCM đã được trao nhiều cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 98, nhưng việc triển khai trên thực tế vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán và hiệu quả. Trong kinh tế học, thể chế chính là yếu tố quyết định chi phí giao dịch của toàn bộ nền kinh tế; nếu các quy trình đầu tư, phê duyệt, phân cấp chưa thực sự tối ưu thì sẽ làm giảm tốc độ chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng.

Thứ hai là điểm nghẽn về hạ tầng đô thị và logistics. TP. HCM hiện đóng vai trò trung tâm kinh tế của cả vùng phía Nam, nhưng hệ thống giao thông, kết nối vùng, cảng – kho vận và vận tải công cộng đang chịu áp lực rất lớn. Khi chi phí logistics cao và tình trạng tắc nghẽn kéo dài, thì hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế sẽ bị suy giảm, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng thu hút đầu tư.

Thứ ba là điểm nghẽn về không gian phát triển và phân bổ nguồn lực đô thị. Điều này bao gồm quy hoạch, sử dụng đất, phát triển các khu đô thị mới, cũng như khả năng tạo ra không gian cho các ngành kinh tế mới như công nghệ, tài chính, đổi mới sáng tạo. Khi không gian phát triển bị giới hạn hoặc phân bổ chưa tối ưu, thì ngay cả khi có vốn và công nghệ, thành phố cũng khó mở rộng quy mô kinh tế một cách hiệu quả.

Về thứ tự ưu tiên, tôi cho rằng cần bắt đầu từ hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả vận hành thể chế, bởi đây là điều kiện tiên quyết để đẩy nhanh đầu tư hạ tầng và tái cấu trúc không gian đô thị. Khi thể chế vận hành thông suốt, các nguồn lực công – tư sẽ được huy động hiệu quả hơn, từ đó tạo hiệu ứng lan tỏa sang các lĩnh vực khác và giúp TP. HCM tạo ra bước đột phá trong tăng trưởng.

Gợi mở ba kịch bản tăng trưởng

+ Theo ông, làm thế nào để TP.HCM vừa đạt tăng trưởng cao, vừa đảm bảo chất lượng và tính bền vững, tránh “tăng trưởng nóng”?

- Đây là câu hỏi rất quan trọng, vì trong kinh tế học, tăng trưởng cao chưa chắc đã là tăng trưởng tốt. Một thành phố có thể tăng rất nhanh nhờ tín dụng, bất động sản hoặc đầu tư dàn trải, nhưng mô hình đó dễ tạo ra bong bóng tài sản, nợ xấu, áp lực hạ tầng và bất bình đẳng. Do đó, TP. HCM phải đặt trọng tâm vào chất lượng tăng trưởng.

Điều đó có nghĩa là tăng trưởng phải đi kèm với năng suất lao động cao hơn, đóng góp TFP lớn hơn, tỷ trọng kinh tế số cao hơn, đổi mới sáng tạo mạnh hơn, chất lượng việc làm tốt hơn và sức chống chịu tốt hơn trước biến đổi khí hậu.

Nói cách khác, thành phố không nên chạy theo GRDP bằng mọi giá, mà phải đo cả năng suất, hiệu quả sử dụng vốn, môi trường sống, chất lượng nhân lực và độ bền vững tài khóa. Chính việc thành phố đặt song song mục tiêu GRDP, TFP, kinh tế số và R&D là cách tiếp cận khá đúng theo hướng này.

TP HCM 2
TP.HCM cần đẩy nhanh triển khai Nghị quyết 98 theo hướng thực chất hơn, nhất là các cơ chế liên quan đến PPP, BOT, TOD. Ảnh: DC

+ Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, TP. HCM cần chuẩn bị những kịch bản gì để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, thưa ông?

- Theo tôi, TP. HCM cần chuẩn bị ít nhất ba nhóm kịch bản. Thứ nhất là kịch bản thuận lợi, khi kinh tế thế giới phục hồi, dòng vốn quay lại châu Á và thương mại quốc tế khởi sắc; trong trường hợp đó, điều quan trọng là thành phố phải có sẵn dự án, quỹ đất, hạ tầng và nguồn nhân lực để hấp thụ cơ hội.

Thứ hai là kịch bản trung tính, khi tăng trưởng toàn cầu chậm và cạnh tranh thu hút đầu tư gay gắt; khi đó, lợi thế quyết định sẽ là cải cách thể chế và giảm chi phí kinh doanh nội tại.

Thứ ba là kịch bản bất lợi, khi có cú sốc địa chính trị, gián đoạn thương mại, biến động lãi suất - tỷ giá hoặc rủi ro khí hậu; khi đó TP. HCM phải tăng khả năng chống chịu của hạ tầng, logistics, năng lượng, chuỗi cung ứng và hệ thống tài chính.

Các báo cáo của World Bank cũng nhấn mạnh rằng tăng trưởng đô thị tại Việt Nam gắn rất chặt với chất lượng hạ tầng, logistics và khả năng thích ứng khí hậu, nên đây phải là phần không thể thiếu trong chiến lược tăng trưởng của TP. HCM.

+ Ở góc độ chính sách, ông có khuyến nghị gì để TP.HCM đạt mục tiêu tăng trưởng, thưa ông?

- Ở góc độ chính sách, tôi có mấy khuyến nghị lớn. Trước hết, TP.HCM cần xem cải cách thể chế là động lực tăng trưởng số một, bởi thể chế tốt sẽ kéo theo đầu tư, hạ tầng và đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, cần đẩy nhanh triển khai Nghị quyết 98 theo hướng thực chất hơn, nhất là các cơ chế liên quan đến PPP, BOT, TOD, phân cấp và lựa chọn nhà đầu tư chiến lược.

Thứ ba, thành phố phải ưu tiên đầu tư vào hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số và kết nối vùng, vì đây là nền tảng cho mọi khu vực kinh tế khác.

Thứ tư, cần phát triển mạnh kinh tế số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và trung tâm tài chính quốc tế để tạo ra các động lực tăng trưởng mới.

Thứ năm, cần chuyển từ tư duy quản lý theo chỉ tiêu tăng trưởng ngắn hạn sang tư duy quản trị theo chất lượng tăng trưởng dài hạn, nghĩa là gắn tăng trưởng với năng suất, công nghệ, môi trường, chất lượng việc làm và khả năng chống chịu. Nếu làm được như vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không chỉ là một chỉ tiêu hành chính, mà có thể trở thành một quá trình nâng cấp thực sự của nền kinh tế đô thị TP. HCM.

+ Xin cảm ơn ông!

Xem thêm

Iran xoay xở thế nào khi thương mại đường biển bị gián đoạn?

Iran xoay xở thế nào khi thương mại đường biển bị gián đoạn?

(CLO) Iran đang chuyển một phần hoạt động thương mại sang các cảng phía bắc và tuyến đường bộ trong bối cảnh vận tải biển qua các cảng phía nam bị Mỹ phong tỏa. Các tuyến thay thế có thể giúp Tehran duy trì nguồn cung thiết yếu, nhưng khó bù đắp quy mô và năng lực của thương mại đường biển.

OECD ghi nhận những tiến bộ của Việt Nam trong cải cách thuế

OECD ghi nhận những tiến bộ của Việt Nam trong cải cách thuế

(CLO) Ngày 11/9, tại thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp), Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã có buổi làm việc với Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Mathias Cormann, trao đổi về định hướng hợp tác trong thời gian tới, trong đó tập trung vào các lĩnh vực tài chính công, thuế, đầu tư, tài chính xanh và cải cách thể chế

EU dựng thêm loạt 'rào chắn', hàng Việt đứng trước 'bài kiểm tra' mới

EU dựng thêm loạt 'rào chắn', hàng Việt đứng trước 'bài kiểm tra' mới

(CLO) EU tiếp tục nâng chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu, từ phát thải carbon, bao bì đến truy xuất nguồn gốc và phòng vệ thương mại. Trong bối cảnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này vẫn tăng trưởng tích cực, các quy định mới đang đặt doanh nghiệp trước “bài kiểm tra” về năng lực đáp ứng tiêu chuẩn xanh và khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh.

Tiền mã hóa – lối thoát của Iran giữa vòng vây trừng phạt

Tiền mã hóa – lối thoát của Iran giữa vòng vây trừng phạt

(CLO) Iran đang chuyển hướng sang sử dụng tiền mã hóa để duy trì dòng chảy thương mại trong bối cảnh xung đột và chịu sức ép phong tỏa từ Mỹ, đồng thời nới lỏng một số biện pháp kiểm soát ngoại tệ nghiêm ngặt nhằm đối phó với các lệnh trừng phạt ngày càng siết chặt.

Việt Nam - Liên bang Nga thúc đẩy hợp tác tài chính, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp

Việt Nam - Liên bang Nga thúc đẩy hợp tác tài chính, mở thêm dư địa cho doanh nghiệp

(CLO) Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chiều 8/9 (giờ địa phương), tại Trụ sở Bộ Tài chính Liên bang Nga, Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam Ngô Văn Tuấn đã có buổi làm việc song phương với Bộ trưởng Tài chính Liên bang Nga Anton Germanovich Siluanov.

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

(CLO) Việc EVNNPC đưa các hệ thống BESS đầu tiên vào vận hành tại trạm biến áp 110 kV đánh dấu bước thử nghiệm công nghệ lưu trữ trên lưới điện phân phối. Giải pháp này được kỳ vọng hỗ trợ điều tiết phụ tải, giảm nguy cơ quá tải cục bộ tại những khu vực có nhu cầu điện công nghiệp lớn.

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

(CLO) Vượt qua quy mô hơn 33 tỷ USD hiện hữu, hợp tác đầu tư Việt Nam – EU đang bước vào giai đoạn nâng tầm về chiều sâu công nghệ. Tại tọa đàm sáng 8/9 do Bộ Tài chính tổ chức, hai bên khẳng định Nghị quyết 10-NQ/TW là đòn bẩy cải cách ưu đãi, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp châu Âu với chuỗi giá trị trong nước.

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

(CLO) Mở rộng dư địa phát triển lên vùng trời, Đà Nẵng đặt mục tiêu xây dựng hoàn chỉnh hệ sinh thái thử nghiệm, sản xuất và ứng dụng phương tiện bay tầm thấp (UAV) đến năm 2030. Nội dung Đề án vừa được đưa ra thảo luận tại hội thảo do UBND thành phố tổ chức sáng nay (8/9).

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, việc mở rộng nguồn cung không phải là lời giải duy nhất. Giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đang mở ra một “nguồn tài nguyên” mới cho doanh nghiệp, vừa tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải.

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

(CLO) Các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm trên toàn cầu đang “ôm” lượng lớn tài sản Mỹ nhưng lại giảm mức phòng ngừa rủi ro trước khả năng đồng USD suy yếu. Nếu tâm lý thị trường đảo chiều, việc đồng loạt tăng cường phòng vệ có thể tạo áp lực bán lớn lên đồng bạc xanh.

Cỡ chữ bài viết: