Mục tiêu tăng trưởng hai con số: Cần kiên định để tạo bước chuyển mới

(NB&CL) Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động, Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và đặc biệt là cải thiện năng lực thực thi.

Liên quan đến vấn đề này, phóng viên Báo Nhà báo và Công luận đã trao đổi với TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành về những động lực tăng trưởng hiện nay, cơ hội, thách thức và những việc Việt Nam cần làm trong chặng đường phía trước.

Những tín hiệu tích cực của nền kinh tế

+ Kinh tế Việt Nam đã trải qua hơn 8 tháng đầu năm 2026. Ông đánh giá thế nào về kết quả tăng trưởng và những động lực nổi bật của nền kinh tế Việt Nam?

- Trong thời gian gần đây, kinh tế thế giới liên tục xuất hiện những biến động khó lường. Xung đột địa chính trị diễn ra tại nhiều khu vực, trong khi các nền kinh tế lớn cũng liên tục điều chỉnh chính sách, từ thuế quan của Mỹ đến các tiêu chuẩn thương mại và môi trường mới như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu. Những yếu tố này đang tạo thêm nhiều thách thức đối với thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

anh1-8962.png
TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Ảnh: VGP.

Thế nhưng, trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP Việt Nam vẫn tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng trưởng nửa đầu năm cao nhất trong 15 năm, kể từ năm 2011. Kết quả này cho thấy những tín hiệu tích cực về sức chống chịu, khả năng thích ứng và đà phục hồi của nền kinh tế trước những biến động từ bên ngoài.

Trong các chỉ số kinh tế, có hai yếu tố khiến tôi ấn tượng nhất là dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và hoạt động xuất nhập khẩu.

Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, trong 7 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% và là mức giải ngân cao nhất trong cùng kỳ 7 tháng của 5 năm qua.

Những con số này đã khẳng định: Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Thực tế, chúng ta có nhiều lợi thế để thu hút dòng vốn FDI, trong đó có nền chính trị ổn định, đường lối đối ngoại rộng mở, thân thiện và linh hoạt.

Việt Nam cũng ký kết nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA), trong đó có các nền kinh tế và khu vực kinh tế lớn trên thế giới, tạo lợi thế đáng kể cho hoạt động thương mại, đầu tư và thu hút FDI.

Ngoài ra, xu hướng “Trung Quốc +1” đang tạo thêm cơ hội cho Việt Nam khi nhiều doanh nghiệp quốc tế có nhu cầu đa dạng hóa chuỗi cung ứng, tìm kiếm thêm địa điểm sản xuất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Với vị trí địa lý thuận lợi, gần các trung tâm sản xuất lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể đón nhận một phần dòng vốn và hoạt động sản xuất dịch chuyển trong quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khi các doanh nghiệp FDI mở rộng đầu tư và quy mô sản xuất, hoạt động xuất nhập khẩu cũng được hưởng lợi. Tính chung 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước.

+ Bên cạnh các yếu tố từ bên ngoài, những động lực trong nước đang đóng góp như thế nào vào tăng trưởng, thưa ông?

- Có thể thấy, trong vài năm gần đây, chúng ta đã và đang đẩy nhanh quá trình cải cách tổ chức bộ máy, sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân thông qua Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79.

Đặc biệt, Việt Nam đang dành nguồn lực rất lớn cho phát triển hạ tầng. Nhiều tuyến cao tốc đang được đẩy nhanh tiến độ, cùng với các dự án giao thông liên vùng, đường vành đai, đường sắt, đường sắt đô thị, sân bay và cảng biển. Đây đều là những dự án có khả năng tạo tác động lan tỏa lớn, không chỉ cải thiện kết nối giao thông mà còn mở rộng không gian phát triển kinh tế.

Cụ thể, việc đầu tư mạnh vào hạ tầng sẽ giúp rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics, mở rộng thị trường và tạo điều kiện để doanh nghiệp tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn.

Vì vậy, đầu tư hạ tầng vừa tạo đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng, vừa tạo nền tảng cho tăng trưởng trong những năm tiếp theo.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số: Cần kiên định để tạo bước chuyển mới

+ Việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa như thế nào đối với quá trình phát triển kinh tế? Theo ông, mục tiêu này có khả thi, trước mắt là khả năng đạt mức tăng trưởng hai con số trong năm 2026?

- Việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa rất quan trọng, bởi đây là tiền đề để nền kinh tế chuyển sang nhóm quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Tuy nhiên, nếu đặt ra câu hỏi Việt Nam có thể duy trì mức tăng trưởng cao như vậy trong nhiều năm hay không, theo tôi rất khó để đưa ra câu trả lời chắc chắn, bởi điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, cả từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Tuy nhiên, việc đặt ra mục tiêu và kiên định với mục tiêu đó là điều cần thiết.

anh2.png
Việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa rất quan trọng. Ảnh: Moit

Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều quốc gia trong khu vực châu Á vẫn đang loay hoay, mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình. Nếu Việt Nam không đặt mục tiêu tăng trưởng đủ cao và không thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nguy cơ đi vào quỹ đạo tương tự là rất lớn.

Nhìn từ quốc tế, để vươn mình trở thành những cường quốc kinh tế, các quốc gia đều phải trải qua giai đoạn tăng trưởng cao và duy trì trong thời gian dài.

Ví dụ, Nhật Bản từ thập niên 1960 từng duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong suốt 3 thập kỷ, trong khi Hàn Quốc cũng trải qua giai đoạn tăng trưởng rất cao trong quá trình công nghiệp hóa và chuyển đổi nền kinh tế. Vì vậy, Việt Nam cũng cần đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao và duy trì mục tiêu đó trong dài hạn.

Tất nhiên, mục tiêu này có thực hiện được hay không là một bài toán khó.

Nếu quyết tâm thực hiện, có thể thành công hoặc chưa thành công; còn nếu không quyết tâm thì chắc chắn không thể thành công. Vì vậy, đặt mục tiêu và quyết tâm làm vẫn tốt hơn việc không đặt mục tiêu và không hành động.

+ Vậy theo ông, để Việt Nam duy trì mức tăng trưởng cao trong nhiều năm thì cần phải làm gì?

- Nếu trước đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên, thì hiện nay định hướng đang chuyển mạnh sang khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất. Đây là sự thay đổi quan trọng để tạo ra các động lực tăng trưởng mới, có tính chất dài hạn và bền vững.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi sẽ phải đối mặt với không ít thách thức. Trong bối cảnh đó, tôi cho rằng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần được thực hiện theo hai hướng.

Thứ nhất là tái cơ cấu và hiện đại hóa những hoạt động kinh tế đang tồn tại. Thay vì mở rộng sản xuất chỉ bằng cách tăng vốn, lao động và quy mô, doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, tạo ra sản phẩm mới và gia tăng giá trị.

Nói cách khác, cùng một nguồn lực hiện hữu nhưng phải tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn thông qua đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ.

Thứ hai là kiến tạo những không gian phát triển mới. Đây có thể là những không gian kinh tế được hình thành từ đầu tư hạ tầng, các tuyến đường kết nối khu công nghiệp, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng hoặc những hành lang kinh tế mới.

Chẳng hạn, khi phát triển các tuyến metro, Việt Nam không chỉ xây dựng một công trình giao thông mà còn có thể tạo ra một hệ sinh thái công nghiệp đường sắt, các khu đô thị và dịch vụ xung quanh nhà ga. Từ đó, hạ tầng trở thành nền tảng để hình thành những ngành kinh tế và không gian phát triển mới.

Như vậy, mình tăng trưởng theo hai cách: Một là nâng năng suất, giá trị của những hoạt động kinh tế hiện hữu; hai là kiến tạo những không gian, dư địa phát triển mới.

+ Để biến những định hướng trên thành kết quả thực tế, theo ông đâu là yếu tố quyết định?

- Để biến định hướng thành kết quả thực tế, theo tôi, điểm quyết định nằm ở năng lực thực thi. Việt Nam không thiếu định hướng hay chiến lược phát triển. Vấn đề lớn hơn là năng lực quản trị quốc gia và khả năng giải phóng các nguồn lực đang bị “đóng băng”. Không ít dự án mất nhiều năm chỉ để hoàn tất thủ tục, khiến nguồn lực không thể đưa vào sản xuất và tạo ra giá trị.

Do đó, việc đầu tiên là tiếp tục cải cách thể chế để tháo gỡ những điểm nghẽn pháp lý. Tiếp đó là cải cách quản trị quốc gia, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.

Một yếu tố quan trọng khác là chuyển sang mô hình ra quyết định dựa trên dữ liệu. Khi các thủ tục được số hóa và dữ liệu được kết nối, những vấn đề phát sinh trong nền kinh tế có thể được nhận diện nhanh hơn, từ đó cơ quan quản lý có thể đưa ra giải pháp kịp thời. Quản trị dựa trên dữ liệu cũng giúp bộ máy hoạt động tinh gọn hơn nhưng vẫn có khả năng phản ứng nhanh với những thay đổi của nền kinh tế.

+ Xin cảm ơn ông!

Xem thêm

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

Pin lưu trữ: Giải pháp mới giảm áp lực cho lưới điện công nghiệp

(CLO) Việc EVNNPC đưa các hệ thống BESS đầu tiên vào vận hành tại trạm biến áp 110 kV đánh dấu bước thử nghiệm công nghệ lưu trữ trên lưới điện phân phối. Giải pháp này được kỳ vọng hỗ trợ điều tiết phụ tải, giảm nguy cơ quá tải cục bộ tại những khu vực có nhu cầu điện công nghiệp lớn.

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

Việt Nam – EU: Cam kết hai chiều để nâng chất dòng vốn

(CLO) Vượt qua quy mô hơn 33 tỷ USD hiện hữu, hợp tác đầu tư Việt Nam – EU đang bước vào giai đoạn nâng tầm về chiều sâu công nghệ. Tại tọa đàm sáng 8/9 do Bộ Tài chính tổ chức, hai bên khẳng định Nghị quyết 10-NQ/TW là đòn bẩy cải cách ưu đãi, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp châu Âu với chuỗi giá trị trong nước.

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

Đà Nẵng thí điểm phát triển kinh tế không gian tầm thấp

(CLO) Mở rộng dư địa phát triển lên vùng trời, Đà Nẵng đặt mục tiêu xây dựng hoàn chỉnh hệ sinh thái thử nghiệm, sản xuất và ứng dụng phương tiện bay tầm thấp (UAV) đến năm 2030. Nội dung Đề án vừa được đưa ra thảo luận tại hội thảo do UBND thành phố tổ chức sáng nay (8/9).

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

Biến năng lượng lãng phí thành 'nguồn tài nguyên' cho tăng trưởng

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, việc mở rộng nguồn cung không phải là lời giải duy nhất. Giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đang mở ra một “nguồn tài nguyên” mới cho doanh nghiệp, vừa tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải.

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

Khi cả thế giới 'ôm' USD quá chặt

(CLO) Các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm trên toàn cầu đang “ôm” lượng lớn tài sản Mỹ nhưng lại giảm mức phòng ngừa rủi ro trước khả năng đồng USD suy yếu. Nếu tâm lý thị trường đảo chiều, việc đồng loạt tăng cường phòng vệ có thể tạo áp lực bán lớn lên đồng bạc xanh.

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

(CLO) Trận lũ quét thảm khốc gần đây đã gây thiệt hại khoảng 5 tỷ USD cho Nepal, tương đương một phần mười tổng sản lượng kinh tế hằng năm. Con số này đang tạo thêm áp lực lớn lên nền kinh tế vốn phụ thuộc nhiều vào kiều hối và vẫn chưa hoàn toàn vượt qua những tổn thất từ trận động đất năm 2015.

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

(NB&CL) Muốn tăng trưởng hai con số, nguồn lực phải đến đúng nơi có đơn hàng, có năng lực và có khả năng tạo thêm giá trị. 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tăng 8,18%, nhưng chặng đường tới mục tiêu từ 10% trở lên vẫn còn rất dốc. Theo GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, tăng trưởng chỉ có thể được nâng lên một quỹ đạo mới khi các chính sách hỗ trợ được chuyển thành dòng vốn, mặt bằng, năng lượng, thủ tục và cơ hội thị trường cụ thể cho doanh nghiệp.

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

(CLO) Dù kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều sức ép từ chi phí sản xuất, khả năng tiếp cận vốn đến yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, năm 2027 được dự báo sẽ là giai đoạn doanh nghiệp chịu sự sàng lọc mạnh hơn.

Chiến tranh Mỹ - Iran: Ai thắng, ai thua trong cơn địa chấn kinh tế?

Chiến tranh Mỹ - Iran: Ai thắng, ai thua trong cơn địa chấn kinh tế?

(CLO) Trong khi các tập đoàn dầu khí, quốc phòng và ngân hàng hưởng lợi từ giá năng lượng leo thang, nhu cầu vũ khí tăng cao cùng các biến động thị trường, thì người nộp thuế, người nghèo và các ngành phụ thuộc nhiên liệu lại phải gánh chịu phần lớn chi phí của cuộc khủng hoảng.

Hơn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công, vì sao tiền vẫn chưa “chảy” vào nền kinh tế?

Hơn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công, vì sao tiền vẫn chưa “chảy” vào nền kinh tế?

(NB&CL) Hơn 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công đã được bố trí trong năm 2026, nhưng sau 7 tháng, mới giải ngân khoảng 425.300 tỷ đồng. Đằng sau khoảng cách giữa vốn được phân bổ và dòng tiền thực sự đi vào nền kinh tế là hàng loạt điểm nghẽn từ đất đai, giải phóng mặt bằng, vật liệu xây dựng đến thủ tục và trách nhiệm thực thi.

Người Việt có thể làm chủ ngành công nghiệp của tương lai không?

Người Việt có thể làm chủ ngành công nghiệp của tương lai không?

(NB&CL) Với chủ đề “Để chạm tay vào đích tăng trưởng hai con số”, cuộc trao đổi của Nhà báo và Công luận với ông Bùi Xuân Bình, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc GG Power không chỉ nhìn từ mục tiêu tăng trưởng của năm 2026, mà còn từ câu hỏi lớn hơn: Việt Nam sẽ phát triển bằng năng lực nào, công nghệ nào và doanh nghiệp (DN) nào trong giai đoạn mới?

Đầu tư công phải tạo hiệu ứng lan tỏa, không thể chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân

Đầu tư công phải tạo hiệu ứng lan tỏa, không thể chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân

(NB&CL) TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, đầu tư công không thể chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân mà quan trọng hơn là hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế. Theo ông, cần tránh tư duy chạy theo tiến độ, đồng thời gắn trách nhiệm giải trình với chất lượng và tác động thực tế của từng dự án.

Cỡ chữ bài viết: