Quỹ đất mới là điểm khởi đầu
Yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa đang được cụ thể hóa bằng những mốc tiến độ khá rõ. Trong năm 2026, hệ thống thống kê quốc gia về công nghiệp văn hóa phải từng bước hình thành số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ. Đến tháng 10/2026, Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ phải xác định quỹ đất dành cho khu, trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và sáng tạo nội dung số.
Trao đổi với phóng viên, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng đây là một phép thử cụ thể đối với yêu cầu chuyển từ chủ trương sang thực thi. Với những nhiệm vụ có thời hạn rõ, việc theo dõi cũng cần đi vào từng đầu việc, từng sản phẩm thay vì chỉ chờ đến cuối kỳ để tổng kết.
“Xác định một khu đất trên bản đồ chưa có nghĩa là đã có một trung tâm công nghiệp văn hóa”, ông Sơn nhấn mạnh.
Theo ông, sau câu chuyện quỹ đất là hàng loạt câu hỏi quyết định khả năng tồn tại của một trung tâm: trung tâm ấy sản xuất sản phẩm gì, doanh nghiệp nào đầu tư, thị trường ở đâu, tạo bao nhiêu việc làm, hình thành tài sản trí tuệ nào và đóng góp ra sao cho GRDP. Nếu chưa trả lời được những câu hỏi này, quỹ đất dù đã được xác định vẫn chưa đồng nghĩa với một mô hình công nghiệp văn hóa có khả năng vận hành.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với yêu cầu mỗi địa phương trọng điểm không lựa chọn dàn trải mà chỉ xác định một số ít lĩnh vực có lợi thế và không quá ba dự án dẫn dắt. Mỗi dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch.
Đồng thời, các địa phương được yêu cầu không xây dựng các mô hình giống nhau; mỗi trung tâm phải có chức năng khác biệt, gắn với lợi thế, thị trường, chủ thể đầu tư và khả năng liên kết vùng. Điều này đặt ra yêu cầu ngay từ khâu lựa chọn quỹ đất phải xác định rõ trung tâm sẽ đảm nhiệm vai trò gì trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa của địa phương và trong liên kết với các địa bàn khác.
Công nghiệp văn hóa phải được đo bằng giá trị tạo ra
PGS.TS Bùi Hoài Sơn lưu ý, muốn công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng thì trước hết phải có khả năng đo lường. Việc hình thành số liệu gốc và phương pháp thống kê thống nhất không đơn thuần là một yêu cầu kỹ thuật, mà là cơ sở để nhận diện ngành nào đang tạo giá trị, địa phương nào có lợi thế và chính sách nào thực sự mang lại hiệu quả.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, hệ thống dữ liệu cần cho phép theo dõi những chỉ số cụ thể như đóng góp vào GDP, doanh thu, việc làm, xuất khẩu, bản quyền. Ở cấp địa phương, cùng với việc xác định vị trí cho các trung tâm công nghiệp văn hóa, cần làm rõ diện tích, chức năng và chủ thể đầu tư. Khi các yếu tố này được lượng hóa, việc phân bổ nguồn lực và lựa chọn dự án mới có căn cứ rõ ràng hơn.
Yêu cầu này đặt ra trong bối cảnh công nghiệp văn hóa không còn chỉ được nhìn như một lĩnh vực hỗ trợ cho đời sống tinh thần. Định hướng hiện nay là chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh, tạo sản phẩm, doanh thu, việc làm và tài sản trí tuệ. Vì vậy, hiệu quả của một trung tâm công nghiệp văn hóa không thể chỉ được đánh giá bằng quy mô mặt bằng hay số công trình được xây dựng.
“Giám sát cũng không nên chỉ chạy theo việc ‘đúng hạn’”, ông Sơn nêu quan điểm.
Theo ông, hoàn thành một mốc thủ tục là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều phải kiểm đếm cuối cùng là sản phẩm được tạo ra, chủ thể tham gia thị trường, khả năng tạo việc làm và giá trị kinh tế - văn hóa mà dự án mang lại. Đây cũng là cách để tránh tình trạng một trung tâm được hình thành về tên gọi nhưng thiếu hoạt động sản xuất, thiếu doanh nghiệp và thiếu thị trường.
Chọn đúng dự án để tạo sức bật
Yêu cầu không quá ba dự án dẫn dắt đối với mỗi địa phương cho thấy cách tiếp cận đang chuyển từ mở rộng danh mục sang tập trung nguồn lực. Thay vì cùng lúc triển khai nhiều dự án, địa phương phải lựa chọn những lĩnh vực có lợi thế và xác định rõ khả năng tạo sản phẩm, thị trường cũng như hiệu ứng lan tỏa.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, việc giám sát các nhiệm vụ này cần được tổ chức theo tiến độ cụ thể. Có thể xác lập các mốc trung gian để biết cơ quan nào chịu trách nhiệm về phương pháp thống kê, bộ dữ liệu nào cần thu thập; đồng thời theo dõi địa phương nào đã xác định được vị trí, diện tích, chức năng và chủ thể đầu tư cho các trung tâm.
Đặc biệt, ông cho rằng phải công khai hoá tiến độ ở mức phù hợp để thấy địa phương nào đã hoàn thành, địa phương nào còn vướng và vướng ở khâu nào: quy hoạch, vốn, cơ chế đầu tư hay giải phóng mặt bằng. Theo ông, sự minh bạch không chỉ tạo áp lực trách nhiệm mà còn giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm điểm nghẽn để có giải pháp tháo gỡ.
Tuy vậy, nội dung này cần được đặt trong mục tiêu lớn hơn là chất lượng của dự án. Một dự án hoàn thành đúng mốc nhưng không tạo được sản phẩm, không thu hút được doanh nghiệp hay không hình thành được thị trường thì khó có thể coi là thành công.
“Không đợi đến cuối kỳ mới phát hiện chậm, mà phải nhận diện nguy cơ chậm ngay từ đầu; không chỉ giám sát quy trình, mà giám sát sản phẩm và tác động cuối cùng”, ông Sơn nói.
Từ yêu cầu xác định quỹ đất đến việc giới hạn số dự án dẫn dắt, bài toán đặt ra cho các địa phương vì thế không nằm ở việc có thêm bao nhiêu trung tâm trên quy hoạch. Thước đo quan trọng hơn là những không gian ấy có tập hợp được người sáng tạo và doanh nghiệp, tạo ra sản phẩm có khả năng bước vào thị trường, hình thành tài sản trí tuệ, việc làm và nguồn thu hay không. Chỉ khi những yếu tố đó được làm rõ, quỹ đất dành cho công nghiệp văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển.