Về bản chất, tỷ lệ chọi chỉ là phép tính giữa số hồ sơ đăng ký và chỉ tiêu tuyển sinh. Nhưng khi được công bố rộng rãi, nó lại nhanh chóng trở thành “thước đo” để nhiều người đánh giá độ khó của kỳ thi.
Không ít học sinh nhìn vào những con số như 1/10 hay 1/15 rồi mặc định đó là “cánh cửa hẹp”, từ đó thay đổi nguyện vọng theo hướng an toàn, dù năng lực có thể cao hơn. Ngược lại, những trường có tỷ lệ thấp lại khiến một bộ phận học sinh chủ quan, giảm nỗ lực.
Theo thầy Đảo, chính những con số tưởng chừng khách quan này đang làm lệch hướng lựa chọn và khiến tâm lý học sinh trở nên bất ổn ngay từ trước kỳ thi.
Một trong những vấn đề cốt lõi là tỉ lệ chọi không phản ánh chính xác mức độ cạnh tranh thực tế. Hai trường có cùng tỉ lệ 1/10 chưa chắc có độ khó tương đương, bởi chất lượng thí sinh hoàn toàn khác nhau.
Có trường xuất hiện nhiều hồ sơ “ảo”, đăng ký chỉ để thử sức, trong khi ở trường khác, phần lớn thí sinh đều có học lực khá, giỏi. Bên cạnh đó, tỷ lệ này còn biến động mạnh theo từng năm do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như vị trí địa lý, uy tín trường, thay đổi chỉ tiêu hay tâm lý đám đông.
Vì vậy, việc sử dụng tỷ lệ chọi để dự đoán khả năng trúng tuyển, theo các chuyên gia, là thiếu cơ sở khoa học và dễ dẫn đến những quyết định sai lệch.
Việc công bố tỷ lệ chọi công khai không chỉ gây áp lực mà còn tạo ra hiệu ứng so bì giữa các trường. Những trường có tỷ lệ cao thường bị “gắn mác” cạnh tranh khốc liệt, trong khi các trường có tỷ lệ thấp lại bị đánh giá kém hấp dẫn, bất kể chất lượng đào tạo thực tế.
Điều này khiến nhiều học sinh chọn trường theo “độ hot” thay vì năng lực và nhu cầu cá nhân. Không ít trường hợp trúng tuyển nhưng không theo kịp chương trình, hoặc ngược lại, bỏ lỡ cơ hội học tập phù hợp chỉ vì e ngại tỉ lệ chọi cao.
Phụ huynh cũng chịu tác động không nhỏ, khi tâm lý lo lắng dễ dẫn đến việc can thiệp vào quyết định của con, làm xáo trộn định hướng ban đầu.
Dưới góc độ thống kê, tỷ lệ chọi là dữ liệu thô, có giá trị thông tin thấp nếu không đi kèm các yếu tố quan trọng như phổ điểm, điểm chuẩn các năm hay tiêu chí tuyển sinh cụ thể.
Trong khi đó, tác động xã hội của việc công bố lại rất lớn. Thông tin được lan truyền nhanh, dễ bị hiểu sai và vô tình trở thành “nỗi ám ảnh” trong suốt mùa thi.
Thầy Đảo cho rằng, đây là một chỉ số “gây nhiễu” nhiều hơn là hỗ trợ định hướng. Thay vì tập trung vào tỷ lệ chọi, các chuyên gia cho rằng phụ huynh và học sinh nên quan tâm đến những dữ liệu có giá trị thực chất hơn, như điểm chuẩn qua các năm, phổ điểm trúng tuyển, hay phân vị điểm để tự đánh giá năng lực.
Bên cạnh đó là thông tin về chương trình đào tạo, môi trường học tập, định hướng nghề nghiệp và tỷ lệ tốt nghiệp của từng trường.
Các trường THPT và THCS cũng cần tăng cường tư vấn hướng nghiệp, giúp học sinh hiểu rõ bản thân và lựa chọn phù hợp, thay vì chạy theo tâm lý đám đông.
Theo quan điểm của người đứng đầu một trường THPT, tỷ lệ chọi từng được xem là biểu hiện của minh bạch thông tin, nhưng trong bối cảnh hiện nay, nó không còn mang lại giá trị thực tiễn.
“Chỉ số này không giúp học sinh học tốt hơn, cũng không giúp nâng cao chất lượng tuyển sinh, mà chủ yếu tạo áp lực và hiểu lầm”, thầy Đảo nhận định.
Từ đó, ông đề xuất ngành giáo dục cần mạnh dạn xem xét dừng công bố tỷ lệ chọi trong tuyển sinh lớp 10, thay bằng những dữ liệu khoa học, khách quan và có tính định hướng cao hơn.
Khi thông tin được cung cấp đúng và đủ, học sinh mới có thể đưa ra lựa chọn phù hợp, tự tin bước vào kỳ thi mà không bị chi phối bởi những con số mang tính hình thức.
Khoảng 17.800/169.000 học sinh lớp 9 tại TP HCM không đăng ký thi vào lớp 10 công lập, chủ yếu chuyển hướng sang trường tư, giáo dục thường xuyên, học nghề hoặc du học. Năm nay, hơn 151.000 thí sinh dự thi trong khi chỉ tiêu là 118.550, tương đương khoảng 78% trúng tuyển. Kỳ thi diễn ra ngày 1–2/6, sớm hơn mọi năm.
Tại Hà Nội, khoảng 22.000/147.000 học sinh không thi công lập. Toàn thành phố có hơn 125.000 thí sinh dự thi, với tỷ lệ trúng tuyển khoảng 56%. Một số trường “hot” ghi nhận tỷ lệ chọi cao như Yên Hòa (1/3,35), Lê Quý Đôn – Hà Đông (1/3). Kỳ thi diễn ra từ 30/5 đến 1/6.