Điều chỉnh kích thước chữ
Tiếp bài, Sơn La: Nỗi buồn mang tên "vàng trắng"

“Vàng trắng” sẽ... mất trắng ?

(CLO) Một số diện tích cây cao su được trồng trên địa bàn tỉnh Sơn La đã cho thu hoạch mủ. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế từ cây cao su mang lại không được như kỳ vọng và người dân thì đang thấp thỏm trong nỗi lo “vàng trắng” sẽ…mất trắng?

Báo nói Công luận
Son la - noi buon vang trang

Như đã đề cập ở bài viết  Nỗi buồn mang tên "vàng trắng", chủ trương đưa cây cao su lên trồng ở một số tỉnh vùng cao miền núi phía Bắc là một chủ trương lớn nhằm phát triển kinh tế cho các tỉnh miền núi và vùng đồng bào dân tộc.

Tại tỉnh Sơn La, cây cao su đã được trồng tại nhiều địa phương trong tỉnh từ những những năm 2007 – 2008. Đến nay sau hơn 10 năm triển khai, diện tích cây cao su tại tỉnh Sơn La vào khoảng 7000 ha. Một số diện tích đã cho thu hoạch mủ.

Tuy nhiên hiệu quả kinh tế từ cây cao su mang lại không được như kỳ vọng và người dân thì đang thấp thỏm trong nỗi lo “vàng trắng” sẽ…mất trắng.

10 năm trồng cao su mới ký hợp đồng…góp đất

Thực hiện chủ trương trồng cây cao su, hàng nghìn hộ dân ở Sơn La đã góp đất với Công ty Cao su Sơn La để phát triển loại cây này.

Trong tổng số 8.477,99 ha đất mà Công ty Cao su Sơn La được bàn giao để phát triển cây cao su thì diện tích đất canh tác của của các hộ dân góp vào chiếm phần lớn tổng diện tích đất đã trồng của loại cây này.

Theo báo cáo của Công ty Cao su Sơn La thì có 7.221 hộ dân đã góp đất và diện tích đất góp là 5.963,43 ha.

Đây là diện tích đất mà các hộ dân được chính quyền giao để sử dụng lâu dài và ổn định (trong đó chủ yếu là đất nương rẫy của hộ gia đình canh tác lâu năm). Một số hộ đã được cấp sổ đỏ, một số hộ thì chưa.

Ngoài ra còn có đất cộng đồng (đây là các diện tích đất trước đây là rừng cộng đồng, được chính quyền giao cho các bản để sử dụng chung). Diện tích đất này là 2.514,56 ha.

Khi cây cao su bắt đầu phát triển, chính quyền thu lại các diện đất này từ cộng đồng và cho Công ty Cao su Sơn La thuê.

Tính đến thời điểm cuối năm 2018, tỉnh Sơn La đã ra quyết định giao đất và cấp bìa đỏ cho Công ty Cao su Sơn La thuê 2.064,52 ha (trong đó có 212 ha đất đã bàn giao quản lý, còn lại 238,04 ha địa phương đang làm các thủ tục thu hồi).

Làm việc với ông Lường Văn Hạnh, Phó chủ tịch UBND xã Tông Lạnh, ông đưa cho chúng tôi xem một chồng các bản hợp đồng phô tô (mỗi hợp đồng 3 bản).

Ông Hạnh cho biết: “Cây cao su ở đây phát triển đến giờ phút này là không được. Toàn xã có 425,25 ha, khai thác là 198,11 ha. Bà con tham gia góp đất, có hợp đồng. Đầu tiên mỗi hộ có 1 ha thì được 1 người vào làm công nhân”...

Tuy nhiên, điều đáng nói là dù người dân góp đất với Công ty Cao su Sơn La để trồng cao su từ năm 2007-2008 nhưng không có bất kỳ hộ dân nào được ký hợp đồng với phía công ty vào thời điểm đó.

Phải cho đến gần đây (năm 2018, đầu năm 2019) – tức là sau hơn 10 năm, phía Công ty Cao su Sơn La mới triển khai thực hiện việc ký hợp đồng với bà con và có sự chứng nhận của UBND xã.

Người dân đã góp hàng ngàn ha đất để trồng cao su nhưng phải hơn 10 năm sau mới được phía Cty Cao su Sơn La triển khai ký hợp đồng góp đất. Ảnh: P.V.

Người dân đã góp hàng ngàn ha đất để trồng cao su nhưng phải hơn 10 năm sau mới được phía Cty Cao su Sơn La triển khai ký hợp đồng góp đất. Ảnh: P.V.

Theo người dân cho biết, bắt đầu từ khoảng tháng 6/2018, người của Công ty mới đi xuống một số bản, triệu tập các hộ ra nhà văn hóa, đọc danh sách các hộ và “yêu cầu” các hộ ký 3 bản hợp đồng, có chứng nhận của xã.

Ở một số bản khác, Công ty thực hiện điều này sau Tết âm lịch 2019 vừa qua. Ví dụ như bản hợp đồng của anh Lò Văn Tiếp và chị Quàng Thị Phiển ở xã Bó Mười (huyện Thuận Châu, Sơn La) mới được UBND xã sở tại chứng nhận vào ngày 24/01/2019. Ngoài ra còn rất nhiều hộ dân khác trên địa bàn huyện Thuận Châu chưa ký hợp đồng.

Còn đối với những hộ đã ký, khi trò chuyện với chúng tôi, nhiều hộ dân cho biết hiện tại phía công ty giữ toàn bộ 3 bản hợp đồng này. Ngay cả ông Lường Văn Chương, người đã làm trưởng bản 24 năm nay, cũng “hình như mình đã ký rồi”.

Ông hoàn toàn không biết các điều khoản (trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi) trong hợp đồng là gì và giờ hợp đồng đó đang ở đâu?.

Nói về câu chuyện làm hợp đồng với người dân “khá muộn”, ông Hồ Anh Đức – TGĐ Công ty Cao su Sơn La cho biết: “Vì ngày trước các hộ không rõ diện tích, không có sổ đỏ, hợp đồng thì phải cụ thể, chi tiết.

Trước đây thống nhất trồng xong quay lại đo theo mật độ cây tính tạm thời diện tích, khi đó mới ký hợp đồng. Đầu tư ra đây không phải vì lợi nhuận mà vì chủ trương chính sách của nhà nước, vì người dân.

Hiện nay còn nhiều hộ đã đo mà chưa có sổ thì công ty vẫn đang đợi. Hợp đồng cũng ghi rõ diện tích và nói khi nào hoàn thiện sổ đỏ thì sẽ có giá trị hợp đồng.

Phòng đăng ký đất đai của huyện giữ sổ để cả công ty và người dân được cầm cố sổ đó. Hợp đồng cũng ghi rõ là không bên nào được phá hợp đồng”, ông Đức nói.

Khi được hỏi về sản lượng, thu nhập từ cây cao su, ông Hồ Anh Đức – TGĐ Công ty Cao su Sơn La cho rằng: những năm đầu sản lượng sẽ ít, thu nhập chưa cao được. Nhưng từ năm thứ 3 trở đi sản lượng cao hơn và thu nhập của người dân cũng vì thế mà sẽ được nâng lên.

Nỗi lo “vàng trắng” sẽ…mất trắng

Được biết, ban đầu bà con góp đất chỉ ghi vào danh sách, sau đó diện tích trồng cao su được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện cấp sổ đỏ theo Luật đất đai.

Sau khi có sổ đỏ thì phía Công ty Cao su mới tiến hành ký kết hợp đồng với người dân.

Toàn bộ sổ đỏ được cấp hiện do Chi nhánh Văn phòng quản lý đất đai của Sở Tài nguyên và Môi trường ở các huyện nắm giữ, bảo quản.

Ông Nguyễn Văn Thắng, Trưởng phòng TN&MT huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Ảnh: P.V.

Ông Nguyễn Văn Thắng, Trưởng phòng TN&MT huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Ảnh: P.V.

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Thắng, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La cho biết, quá trình làm sổ đỏ rất phức tạp do phải xác minh nguồn gốc đất.

Khi người dân góp đất trồng cao su thì có nhiều loại đất khác nhau, loại có sổ, loại không có sổ, có loại có sổ nhưng lại không chính xác.

“Nếu nguồn gốc quá trình sử dụng đủ điều kiện thì cấp, sau đó người dân làm hợp đồng với Công ty Cao su. Nhưng cái khó là nhiều khi người dân kê khai không chính xác, như có trường hợp nhà có 3 ha nhưng nói có 1 ha, nên chỗ có bìa chỗ không. Từ khi trồng cao su đến nay không biết cấp bao nhiêu ha nhưng tất cả diện tích trồng cao su trên địa bàn huyện Thuận Châu đã được cấp sổ”, ông Thắng nói.

Tuy nhiên, do các hộ không đươc tiếp cận với hợp đồng nên hoàn toàn không biết nghĩa vụ và quyền lợi của mình là gì.

Các hộ chỉ biết thông qua các cuộc họp miệng mà công ty hoặc xã họp với dân và thông báo rằng đất các hộ góp tương đương 10% giá trị đầu tư cho 1 ha. Và khi cao su đến tuổi khai thác, các hộ sẽ được hưởng 10% lợi nhuận.

Trong 1-3 năm đầu khi cây cao su chưa khép tán, các hộ được Công ty cho trồng xen các loại cây lương thực khác (sắn, ngô, đậu) vào các diện tích trồng cao su. Tuy nhiên, từ sau đó trở đi, các hộ không được trồng xen, hoặc không thể trồng xen vì cây cao su đã khép tán.

Đến nay, sau 10 năm trồng và chăm sóc, một số diện tích cây cao su đã cho thu hoạch mủ. Tuy nhiên, sự mòn mỏi chờ đợi của người dân đã không được như kỳ vọng.

Hầu hết các hộ dân không được lợi ích từ các vườn cao su và nếu có thì cũng là rất thấp. Lý do bởi mức giá mủ cao su trên thị trường thấp hoặc phía Công ty Cao su Sơn La chưa thu mủ.

Ở một số nơi Công ty này đã thu và chia lợi tức cho người dân thì lợi ích kinh tế mang lại cũng không đáng kể. Một số hộ chỉ được vài nghìn, hộ nhiều nhất được vài trăm nghìn đồng.

Ông Quàng Văn Luân, Bí thư bản Lạnh B cho biết, đến thời điểm hiện tại, cây cao su “chưa có kết quả gì”. Còn vợ ông thì bảo “góp đất 11, 12 năm rồi mà chưa có kết quả, chưa ăn thua gì đâu.

Hợp đồng cũng chưa được cầm, họ đang làm. Ngày trước thì chỉ có danh sách kê khai diện tích của từng hộ thôi. Không được gì đâu, không có gì, hỗ trợ cũng không hỗ trợ, chẳng có đất làm gì đâu”.

Còn ông Lường Văn Khi (xã Mường Bo, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) cho biết: “Dự án cao su được biết qua tuyên truyền miệng của trưởng bản, bí thư, cán bộ các cấp chứ không có văn bản gì cả. Từ năm 2008 đến nay không có cam kết, hợp đồng gì cả, chỉ có ký giấy diện tích đất của mình thôi.

Lúc đầu họ vận động người dân không mấy nhiệt tình trồng, về sau được vận động từ các trưởng bản, bí thư, bắt đầu trồng thì năm nào cũng hỗ trợ cho công nhân…đến năm 2015 cây cao su đã khép tán, nên việc làm cỏ, chăm sóc không phải làm nhiều nữa nên công nhân không có việc làm và không có thu nhập.

Mà cây cao su hàng năm đến mùa lại chết cành, chết cây nên có khả năng cây cao su không mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.

Cho nên hơn 300 người ở xã Mường Bo bây giờ xin nghỉ, xin rút bảo hiểm và không còn ai là công nhân nữa. Về sau chúng tôi muốn lấy lại đất, người dân có làm đơn lên xã, huyện, tỉnh và công ty nhưng gần 3 năm nay rồi không có kết quả”.

Sau bao năm mòn mỏi chờ đợi, đến thời điểm hiện tại, sự kiên nhẫn của người dân đang đứng trước áp lực rất lớn là nỗi lo cuộc sống thường ngày và tương lai của con cháu mình.

Tình trạng thiếu đất sản xuất do góp đất trồng cao su, tình trạng cao su đến tuổi khai thác mủ nhưng công ty chưa khai thác, hoặc đã khai thác nhưng người dân chưa được hưởng lợi, hoặc đã chia một phần lợi ích nhưng lợi ích không đáng kể…

Người dân cũng đã nhiều lần phản ánh tới các cấp chính quyền, tới phía Công ty Cao su Sơn La. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bất kỳ cơ chế giải quyết thỏa đáng nào được đưa ra.

Còn người dân thì vẫn đang sống trong thấp thỏm với nỗi lo “vàng trắng” sẽ…mất trắng.

(Còn nữa)

Hoàng Thao