Chiến sự Trung Đông: Phép thử khắc nghiệt với ngành hàng không Việt Nam

(NB&CL) Những diễn biến căng thẳng tại Trung Đông đã tạo ra cú sốc dây chuyền cho ngành hàng không toàn cầu. Với Việt Nam, đây được xem là “phép thử” về năng lực ứng phó, thích nghi và đảm bảo an toàn khai thác trong bối cảnh rủi ro địa chính trị ngày càng gia tăng.

Áp lực đa chiều

Căng thẳng leo thang tại Trung Đông trong thời gian gần đây đã buộc nhiều hãng hàng không trên thế giới phải điều chỉnh lộ trình bay, thậm chí tạm dừng khai thác một số đường bay đi qua khu vực này.

Đối với các hãng hàng không Việt Nam, dù không khai thác trực tiếp nhiều tuyến bay đến các điểm nóng nhưng tác động gián tiếp là không hề nhỏ.

Ảnh 1.Hoạt động vận tải hàng không ảnh hưởng nghiêm trọng vì chiến sự tại Trung Đông. Ảnh.TL.
Hoạt động vận tải hàng không ảnh hưởng nghiêm trọng vì chiến sự tại Trung Đông. Ảnh: TL.

Ông Bùi Minh Đăng - Trưởng phòng Vận tải hàng không (Cục Hàng không Việt Nam) cho biết, chiến sự Trung Đông đã đẩy giá nhiên liệu Jet A1 tăng gấp 3 lần so với thời điểm trước đó. Điều này khiến các hãng hàng không gặp nhiều khó khăn khi chi phí sẽ đội lên 60 - 70%.

Nhiều tuyến bay nối châu Âu - châu Á qua vùng Vịnh bị ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ tác động đến hoạt động di chuyển của hành khách mà cả luồng di chuyển của hàng hóa, vật tư, trang thiết bị qua đường hàng không.

Hiện có 3 hãng hàng không Trung Đông gồm Qatar Airways, Emirates và Etihad Airways khai thác các đường bay từ Doha, Dubai, Abu Dhabi đến Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng với tần suất trung bình 12 chuyến mỗi ngày.

Tuy nhiên từ khi chiến sự nổ ra khiến hàng loạt chuyến bay bị hủy bỏ, các hãng hàng không phải điều chỉnh kế hoạch khai thác, làm ảnh hưởng đến cả chục nghìn hành khách.

Những thông tin về xung đột, an ninh hàng không còn khiến một bộ phận hành khách e ngại khi bay qua các khu vực nhạy cảm, từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại quốc tế, đặc biệt là các đường bay dài.

Tổng công ty quản lý bay Việt Nam có thể thất thu gần 250.000 USD/tuần, tương đương gần 1 triệu USD/tháng. Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam ước thất thu khoảng 10,9 triệu USD/tháng từ các dịch vụ hàng không.

Có thể thấy, chiến sự Trung Đông không chỉ là một biến cố khu vực mà đã trở thành “phép thử” thực sự đối với khả năng quản trị rủi ro, tính linh hoạt và sức chống chịu của ngành hàng không Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Ảnh 2.Các hãng hàng không Việt Nam cần đa dạng hóa mạng bay, giảm phụ thuộc vào một số hành lang hàng không nhất định.Ảnh.TL.
Các hãng hàng không Việt Nam cần đa dạng hóa mạng bay, giảm phụ thuộc vào một số hành lang hàng không nhất định. Ảnh: TL.

Chủ động thích ứng và giải pháp giảm thiểu rủi ro

Để tháo gỡ khó khăn trước mắt, đại diện Vietnam Airlines kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét miễn thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay.

Hãng cũng đề nghị Cục Hàng không Việt Nam có tiếng nói với các nhà chức trách hàng không quốc tế nhằm áp dụng các cơ chế linh hoạt tương tự giai đoạn dịch Covid-19.

Theo ông Nguyễn Quang Trung - Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), trước mắt hãng sẽ sử dụng nguồn nhiên liệu dự trữ từ tháng 3. Đồng thời triển khai các giải pháp tiết kiệm nhiên liệu nhằm đảm bảo một phần nhu cầu khai thác trong tháng 4/2026.

Các hãng hàng không cũng đã xây dựng kịch bản khai thác linh hoạt. Điều chỉnh lịch bay, thay đổi điểm dừng kỹ thuật hoặc tối ưu hóa đội tàu bay được thực hiện nhằm giảm thiểu chi phí phát sinh.
Thông tin từ Cục trưởng Uông Việt Dũng cho biết, Cục Hàng không Việt Nam sẽ đề xuất Bộ Xây dựng báo cáo Chính phủ xem xét các cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ ổn định, xem xét nới hạn mức tín dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu, các hãng hàng không.

Bên cạnh đó đề xuất Bộ Công Thương và các đơn vị, doanh nghiệp trong ngành xăng - dầu khí (Petrovietnam, Petrolimex, các nhà máy lọc dầu) rà soát, phối hợp chỉ đạo, triển khai các biện pháp duy trì nguồn cung Jet A1 ổn định để tránh thiếu hụt.

Đặc biệt cần dự trữ nhiên liệu Jet A1 trong thời gian phù hợp trên cơ sở diễn biến tình hình và hoạt động khai thác của các hãng hàng không (dự trữ đủ cho ít nhất 2 - 3 tháng) và bảo đảm phương án sẵn sàng về nguồn nhập khẩu nhiên liệu.

Về dài hạn, chiến sự Trung Đông cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với ngành hàng không Việt Nam trong việc đa dạng hóa mạng bay, giảm phụ thuộc vào một số hành lang hàng không nhất định.

Đầu tư vào công nghệ, nâng cao năng lực dự báo và xây dựng các kịch bản ứng phó với rủi ro địa chính trị sẽ là hướng đi cần thiết để ngành hàng không không chỉ vượt qua “phép thử” hiện tại mà còn củng cố nền tảng phát triển bền vững trong tương lai.

Xem thêm

Cỡ chữ bài viết: