Bộ Tài chính vừa hoàn thiện hồ sơ dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư (sửa đổi) và chuyển Bộ Tư pháp thẩm định.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng. Tuy nhiên, hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn một số vấn đề.
Hiện, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; hàm lượng công nghệ, mức độ chuyển giao công nghệ.
Tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; còn tình trạng chuyển giá ở một số doanh nghiệp, cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng ở một số địa phương.
Tại Tờ trình Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư (sửa đổi) vừa hoàn thiện, Bộ Tài chính đã đề xuất nhiều nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao.
Trong đó, hai nội dung cốt lõi nhận được sự chú ý lớn từ cộng đồng doanh nghiệp là việc mở rộng điều kiện tiếp cận thị trường, dỡ bỏ trần sở hữu vốn ngoại và chuyển đổi căn bản chính sách ưu đãi đầu tư.
Dỡ bỏ rào cản sở hữu
Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là nhiều ngành, nghề quy định nhà đầu tư nước ngoài phải thành lập liên doanh nhưng lại không khống chế cụ thể tỷ lệ sở hữu vốn. Điều này vô hình trung tạo ra thủ tục hành chính phức tạp, làm phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết và cản trở dòng vốn chất lượng cao.
Giải quyết triệt để vấn đề này, dự thảo Luật đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 3a Điều 8 Luật Đầu tư năm 2020. Theo đó, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ, Chính phủ được giao thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ hoặc áp dụng các điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn đối với danh mục ngành, nghề hạn chế.
Cùng với đó, bổ sung Khoản 3b Điều 8, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, trường hợp cần thiết để thu hút các dự án đầu tư chiến lược, có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo mà cần có yêu cầu nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm an ninh, quốc phòng và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Theo giải trình của Bộ Tài chính, quy định mở này không chỉ giúp đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tăng tính minh bạch cho môi trường kinh doanh mà còn là bước đi chiến lược, góp phần đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe để nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chuyển từ ưu đãi thuế sang hỗ trợ
Sự xuất hiện của quy định thuế tối thiểu toàn cầu đã làm giảm đáng kể hiệu lực của các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp truyền thống. Để giữ vững sức hút đối với các tập đoàn đa quốc gia, dự thảo Luật bổ sung, sửa đổi Điều 14 và Điều 17 Luật Đầu tư năm 2020, đánh dấu bước chuyển dịch quan trọng từ hình thức ưu đãi "đầu vào" (giảm thuế, miễn tiền thuê đất) sang cơ chế hỗ trợ dựa trên chi phí và kết quả "đầu ra".
Điều 14 dự thảo Luật bổ sung thêm nhiều hỗ trợ như hỗ trợ chuỗi cung ứng, hỗ trợ sản xuất, cải tiến sản phẩm, công nghệ, hỗ trợ đầu tư ban đầu, đầu tư tạo tài sản cố định…
Điều 16 quy định về Quỹ Hỗ trợ đầu tư, thông qua cơ chế này Nhà nước sẽ cấp phát kinh phí hỗ trợ trực tiếp sau đầu tư cho các dự án đáp ứng được các tiêu chí về công nghệ và tính lan tỏa.
Các hạng mục hỗ trợ tập trung vào: chi phí đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đầu tư xây dựng hạ tầng xã hội cho người lao động, phát triển sản phẩm công nghệ cao và kết nối chuỗi cung ứng nội địa.
Đặc biệt, nhằm giữ chân dòng vốn lâu dài, Điều 17 Dự thảo Luật đề xuất chính sách thưởng tái đầu tư: các doanh nghiệp FDI sử dụng nguồn lợi nhuận chưa chuyển về nước để tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất tại Việt Nam sẽ được xem xét hỗ trợ tối đa 2% chi phí đầu tư tạo tài sản cố định mới.
Sự kết hợp giữa việc dỡ bỏ rào cản tiếp cận thị trường và áp dụng cơ chế hỗ trợ đầu tư linh hoạt, tiệm cận chuẩn mực quốc tế được kỳ vọng sẽ tạo ra xung lực mới, giúp Việt Nam đón đầu làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu trong giai đoạn tới.