Đến năm 2050, Đà Nẵng là cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia

(CLO) Ngày 6/4, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 628/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.

Theo Quyết định, phạm vi lập quy hoạch là toàn bộ địa giới hành chính của thành phố Đà Nẵng và không gian biển phía Đông của thành phố. Tổng diện tích lập quy hoạch khoảng 11.859,59 km² và phần không gian biển phù hợp với quy định pháp luật và các công ước quốc tế.

Thời hạn quy hoạch đến năm 2050, phân kỳ thực hiện theo các giai đoạn phù hợp với thời kỳ quy hoạch theo quy định của Luật Quy hoạch; tầm nhìn đến năm 2075.

Việc lập quy hoạch nhằm cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước; cụ thể hóa các định hướng của quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch thành phố; đồng thời cụ thể hóa các cơ chế, chính sách đặc thù và các chiến lược phát triển của thành phố theo từng giai đoạn và tầm nhìn phát triển.

Cùng với đó, định hướng phát triển không gian tổng thể cho thành phố sau sáp nhập, bảo đảm tổ chức lãnh thổ, cấu trúc đô thị – nông thôn, hệ thống trung tâm, không gian ngầm và hạ tầng khung phát triển đồng bộ, thống nhất; phát triển cân bằng giữa vùng Đông là khu vực đồng bằng ven biển và vùng Tây là khu vực miền núi, trung du, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy lợi thế nổi trội của mỗi vùng; phát triển gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản, giá trị tự nhiên, bảo đảm bản sắc và bền vững.

Đây là cơ sở pháp lý để triển khai các quy hoạch cấp dưới, quản lý phát triển đô thị – nông thôn, quản lý đầu tư xây dựng và xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển theo từng giai đoạn.

Đến năm 2050, Đà Nẵng là cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia

Theo quy hoạch, mục tiêu đến năm 2050 xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố hiện đại, thông minh, đáng sống và giàu bản sắc; là cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia; trung tâm quốc gia và khu vực về logistics, kinh tế biển, thương mại, tài chính, thương mại tự do, khoa học – công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; trung tâm du lịch – di sản, văn hóa – thể thao, giáo dục – đào tạo, y tế chất lượng cao; phát triển theo mô hình tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển đảo.

z3688040122449_bf0066176e3e21fdf7439729b8addb6d.jpg
Theo quy hoạch, mục tiêu đến năm 2050 xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố hiện đại, thông minh, đáng sống và giàu bản sắc; là cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia.

Tầm nhìn đến năm 2075, xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố sinh thái, hiện đại, thông minh, giàu bản sắc; là thành phố có sức hấp dẫn, an toàn và đáng sống mang tầm quốc tế.

Về tính chất, Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế – xã hội lớn của cả nước; trung tâm về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số, công nghiệp hỗ trợ; trung tâm văn hóa – thể thao, giáo dục – đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học – công nghệ; đô thị có vị trí chiến lược trong hệ thống đô thị quốc gia; đầu mối giao thông – viễn thông chiến lược, kết nối đồng bộ các loại hình vận tải quốc gia.

Đồng thời, là trung tâm thương mại tự do, tài chính, văn hóa, tổ chức sự kiện quốc tế; có vai trò cầu nối thúc đẩy hội nhập kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các nước trong khu vực; là điểm trung chuyển giao thông quốc tế thông qua hệ thống cảng biển và sân bay; cửa ngõ ra biển quan trọng của các quốc gia trên hành lang kinh tế Đông – Tây, điểm kết nối các quốc gia tiểu vùng sông Mê Kông với ASEAN và quốc tế. Đà Nẵng cũng là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng – an ninh quốc gia.

Theo quy hoạch, đến năm 2050, quy mô dân số của Đà Nẵng dự báo khoảng 6 triệu người; trong đó dân số đô thị khoảng 4 triệu người, dân số thường trú khoảng 4,9 triệu người.

Quy mô đất đai đến năm 2050: đất dân dụng toàn đô thị khoảng từ 28.000 ha đến 44.000 ha; đất dân dụng nông thôn khoảng 30.000 ha.

Một số yêu cầu cần nghiên cứu đối với nội dung quy hoạch

Về yêu cầu đối với công tác đánh giá hiện trạng, cần rà soát, đánh giá cụ thể hơn vai trò, vị trí, lợi thế và tiềm năng phát triển của thành phố trong mối liên hệ với khu vực ASEAN, quốc gia, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; làm rõ mối quan hệ với thành phố Huế, tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt là vị trí chiến lược trên hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC) và vành đai logistics biển Đông – Thái Bình Dương, làm cơ sở hoàn thiện mục tiêu phát triển theo từng giai đoạn và tầm nhìn.

Đánh giá đầy đủ các yếu tố kỹ thuật, môi trường để xác định hiện trạng quỹ đất xây dựng; làm rõ các khu vực cấm phát triển, khu vực thuận lợi, khu vực bất lợi (khu vực có nền đất yếu, khu vực có cao độ thấp hơn mức nước dâng tính toán...); các khu đất, công trình quốc phòng, an ninh; khu vực địa hình ưu tiên sử dụng cho nhiệm vụ quốc phòng.

Xác định khung không gian sinh thái trọng yếu của thành phố gồm hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn, hành lang và lưu vực các sông lớn, hệ thống hồ đập, không gian trữ nước tự nhiên, các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, hành lang bảo vệ nguồn nước và khu vực bảo tồn nghiêm ngặt; xác định các nguy cơ rủi ro do thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, có xét đến các khu vực lân cận.

Đánh giá hiện trạng hệ thống đô thị, cụm đô thị, không gian nông thôn, các khu chức năng và hạ tầng liên kết; phân tích hiệu quả sử dụng đất và hạ tầng so với mục tiêu quy hoạch, xác định các điểm nghẽn làm cơ sở đề xuất giải pháp chỉnh trang, tái thiết và điều chỉnh phương án tổ chức không gian.

Đánh giá các quy hoạch đô thị, quy hoạch các khu chức năng đã được phê duyệt trên địa bàn thành phố, đặc biệt là các quy hoạch quan trọng như: điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng (trước khi hợp nhất), quy hoạch chung Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang, Khu công nghệ cao Đà Nẵng, Đại học Đà Nẵng, quy hoạch chung thành phố Hội An...; rà soát, khớp nối các dự án, chương trình đang triển khai; đánh giá việc thực hiện và đề xuất phương án phù hợp, bảo đảm tính kế thừa, liên tục, tránh lãng phí nguồn lực.

Đối với yêu cầu về xác định vị thế, tiềm năng, động lực phát triển: Cần xác định đầy đủ các yêu cầu phải tuân thủ và cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo, định hướng phát triển, chính sách đặc thù tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thành ủy; các quy hoạch ngành, quy hoạch vùng đối với thành phố Đà Nẵng; bảo đảm các mục tiêu phát triển thành phố theo từng giai đoạn.

Rà soát, đánh giá các xu hướng phát triển đô thị mới trên thế giới và khu vực; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế đối với các đô thị có đặc điểm tương đồng với Đà Nẵng.

Trên cơ sở so sánh các tiêu chí phát triển về quy mô dân số, cấu trúc không gian, hạ tầng kỹ thuật, mô hình quản trị đô thị và khả năng thích ứng biến đổi khí hậu để rút ra bài học kinh nghiệm phù hợp phục vụ xây dựng mô hình phát triển đô thị Đà Nẵng.

Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và tích hợp giữa Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng với các quy hoạch cấp trên và các quy hoạch ngành đang triển khai hoặc đã được phê duyệt.

Về yêu cầu đối với mô hình và cấu trúc không gian đô thị, cần phân vùng chức năng, xác định cấu trúc đô thị thành phố Đà Nẵng bảo đảm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thông qua các giải pháp quy hoạch không gian.

Trong đó, tập trung kết nối không gian, hạ tầng vùng động lực phía Đông, vùng phía Tây, không gian biển và đặc khu Hoàng Sa; các khu vực phát triển đô thị động lực, các khu chức năng và hệ thống kinh tế lớn của thành phố (cảng biển, sân bay, các khu phi thuế quan, khu thương mại tự do...) gắn với các hành lang phát triển theo các tuyến giao thông kết nối Đông – Tây. Làm rõ, cụ thể hóa vai trò, chức năng của từng khu vực trong cấu trúc đô thị; trường hợp chưa xác định đầy đủ cần nghiên cứu bổ sung để bảo đảm tính đồng bộ, tránh phát triển cục bộ.

Nghiên cứu hình thành các trục không gian cảnh quan – du lịch – sinh thái kết nối từ vùng núi phía Tây ra biển trên cơ sở các hành lang theo hệ thống sông chính như sông Hàn, sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Cổ Cò, sông Trường Giang và không gian mặt biển.

Xác định giải pháp gia tăng giá trị không gian mặt nước, khai thác hiệu quả lợi thế ven biển, quần đảo, bán đảo gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững; hình thành bản sắc đô thị biển và hệ sinh thái “du lịch – văn hóa – sáng tạo” của thành phố Đà Nẵng.

Về kiến trúc, cảnh quan và không gian xanh, định hướng phân vùng kiến trúc; tổ chức hệ thống không gian xanh, mặt nước, trục không gian chính, cửa ngõ, điểm nhấn đô thị. Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa, gắn với phát triển du lịch bền vững; chú trọng các khu vực di sản như Hội An, Mỹ Sơn và các cửa ngõ liên kết vùng.

Nghiên cứu phát triển khu vực phía Tây theo hướng tôn trọng tự nhiên, hạn chế can thiệp địa hình; bảo tồn các khu vực đa dạng sinh học như Sơn Trà, Sông Thanh, khu bảo tồn Sao La, khu bảo tồn Voi; đồng thời đánh giá tác động của phát triển thủy điện trên các lưu vực sông.

Xác định các khu vực phát triển nhà ở, nhà ở xã hội; khu vực ưu tiên và hạn chế phát triển theo khả năng đáp ứng hạ tầng; gắn với các cực phát triển kinh tế và yêu cầu quốc phòng, an ninh.

Đối với yêu cầu về phát triển hệ thống đô thị và nông thôn, xác định quy mô, ranh giới, chức năng, chỉ tiêu và định hướng phát triển chủ yếu các khu vực phát triển đô thị (khu trung tâm của đô thị loại I, đô thị loại II, III) gắn với tổng thể không gian thành phố.

Xác định rõ các cực động lực chủ đạo của thành phố như cực trung tâm hành chính, cực tài chính - dịch vụ quốc tế, cực đổi mới sáng tạo và công nghệ cao, cực logistics - cảng biển, cực du lịch sinh thái - văn hóa biển...

Xác định khung định hướng đô thị thông minh, đô thị tăng trưởng xanh và các giải pháp đô thị thông minh trong tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan, sử dụng đất, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật.

Đề xuất mô hình, chỉ tiêu và các nguyên tắc tổ chức không gian sử dụng đất đối với các khu vực phát triển đô thị, khu chức năng đặc thù của thành phố (đô thị lấn biển, TOD, đô thị gắn với logistics sân bay, cảng biển...) trên cơ sở đảm bảo mục tiêu bền vững, kết hợp kinh tế và môi trường; an toàn, bảo vệ hệ sinh thái, tối ưu hóa giá trị đất, tạo nên không gian thương hiệu đô thị hiện đại, đáng sống.

Xác định các chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch, kiểm soát phát triển không gian các khu vực đô thị, các khu chức năng kèm theo các ngưỡng chỉ tiêu đất đai, dân số theo từng giai đoạn, cho từng khu vực và các quy hoạch cấp thấp hơn.

Nghiên cứu các giải pháp không gian nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, thích ứng với lũ, bảo đảm hành lang thoát nước tự nhiên. Hạn chế đô thị hóa mật độ cao tại các khu vực trũng thấp, ven sông, cửa sông, giảm thiểu các rủi ro thiên tai như ngập lụt, sạt lở, mưa bão.

Đối với trung tâm đô thị của thành phố Đà Nẵng, yêu cầu rõ các giải pháp đáp ứng mục tiêu phát triển bảo đảm vai trò hạt nhân dẫn dắt, động lực phát triển của thành phố với các chức năng lớn.

Định hướng các giải pháp mở rộng không gian đô thị Đà Nẵng kết hợp với không gian đô thị Điện Bàn, đô thị Hội An thành tổng thể không gian đô thị biển thống nhất, bảo đảm nhiệm vụ chia sẻ chức năng khu vực trung tâm, hạn chế dịch cư nội vùng về đô thị Đà Nẵng, giải quyết cơ bản các vấn đề về thực trạng quỹ đất so với nhu cầu, yêu cầu phát triển mới của thành phố.

Đề xuất giải pháp quy hoạch theo mô hình đô thị nén, kết hợp đồng bộ các giải pháp chỉnh trang, tạo lập không gian công cộng dành cho người dân và du khách. Hoàn chỉnh, bổ sung đầy đủ hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật gắn với phát triển giao thông công cộng và đô thị thông minh.

Đề xuất các giải pháp cụ thể gắn kết đồng bộ, hài hòa giữa đô thị Hội An, đô thị Điện Bàn với không gian đô thị Đà Nẵng.

Trong đó, Đô thị Hội An là đô thị “Sinh thái - Văn hóa - Du lịch” trên nền tảng văn hóa và di sản, bản sắc và khả năng chống chịu, thích ứng biến đổi khí hậu.

z4349013927463_fe9a73f66de9c5800060e78e80178db5.jpg
Hội An là đô thị “Sinh thái - Văn hóa - Du lịch”.

Đô thị Điện Bàn cần xác định các giải pháp cải tạo không gian ven biển, ven sông (Cổ Cò - Vĩnh Điện) nhằm kết nối đồng bộ không gian đô thị - du lịch ven sông biển từ đô thị Đà Nẵng đến Hội An; tái thiết không gian đô thị kết hợp phát triển các khu đô thị mới theo hướng gia tăng giá trị quỹ đất.

Đề xuất cụ thể phạm vi không gian và chỉ tiêu phát triển đô thị theo từng giai đoạn đối với không gian đô thị mới Nam Hội An (khu vực phía Nam sông Thu Bồn) gắn với định hướng phát triển trở thành trung tâm sự kiện, du lịch, giải trí, thể thao của khu vực, bảo đảm phát triển không gian đô thị hài hòa với không gian tự nhiên (sông - biển), tiết kiệm quỹ đất, bảo đảm mô hình đô thị xanh - thông minh, tăng trưởng xanh, sử dụng năng lượng tái tạo.

Đối với không gian đô thị phía Nam thành phố, cần xác định phạm vi, vai trò, chức năng, các động lực phát triển của khu vực Tam Kỳ - Núi Thành gắn với sân bay Chu Lai, cụm cảng biển Quảng Nam (Tam Hiệp, Tam Hòa, Kỳ Hà, Tam Giang). Xác định các giải pháp kết nối nội khu phân khu hợp lý các chức năng công nghiệp, logistics, đô thị và dịch vụ; các giải pháp liên kết với tổng thể cụm đô thị phía Bắc thành phố Đà Nẵng.

Tổ chức không gian nông thôn tại vùng phía Tây thành phố cần nghiên cứu kế thừa và phát triển đô thị tại xã từ các khu vực thị trấn cũ, hình thành các vùng sản xuất tập trung, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái.

Hình thành trung tâm công nghiệp dược liệu với Sâm Ngọc Linh là cây chủ lực; phát triển công nghiệp chế biến nông sản, du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng. Xác định rõ khu vực phát triển các trung tâm cấp xã, các trung tâm tiểu vùng, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế nổi trội, dư địa phát triển và các giá trị văn hóa, bản sắc đặc trưng.

Về hệ thống các trung tâm và các khu chức năng, rà soát tổng thể không gian hệ thống các trung tâm và các khu chức năng của thành phố về công nghiệp, thương mại, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng sự phù hợp trong tổng thể mối liên hệ với không gian đô thị, định hướng phát triển đô thị - nông thôn của thành phố.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất điều chỉnh nhằm đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả trong thực hiện các mục tiêu phát triển. Đề xuất giải pháp quy hoạch đối với hệ thống giáo dục - đào tạo - nghiên cứu làm cơ sở hình thành “trục tri thức” để thực hiện mục tiêu phát triển thành phố đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ.

Đối với Khu Thương mại tự do Đà Nẵng, các khu kinh tế (Chu Lai, Nam Giang) xem xét tái cấu trúc, điều chỉnh phạm vi, chức năng và mô hình phát triển trên cơ sở đánh giá đầy đủ các điều kiện hạ tầng, liên kết vùng, yêu cầu phát triển mới và hiệu quả sử dụng đất, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển tổng thể của thành phố và các quy hoạch cấp trên có liên quan.

Về du lịch, khai thác các tiềm năng kết nối phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng cũ (Bà Nà - Núi Chúa, bãi biển Mỹ Khê, Sơn Trà,...) với các điểm du lịch khác trong khu vực thành phố sau sáp nhập (Hội An, Mỹ Sơn - Tháp Chàm, Cù Lao Chàm...).

Trong đó, phát huy tối đa giá trị của các di sản UNESCO, các khu dự trữ sinh quyển, gắn với tổ chức không gian du lịch liên hoàn, đa trung tâm, nâng cao năng lực cạnh tranh và tính bền vững của ngành du lịch.

Về hạ tầng kỹ thuật, cần làm rõ các giải pháp hạ tầng chủ yếu, chiến lược của thành phố, bao gồm: Hệ thống cảng biển, sân bay; phương án giao thông đường bộ, đường bộ cao tốc; đường sắt cấp quốc gia và đô thị; giao thông đường thủy; các trục tiêu thoát nước chính, trạm bơm chống ngập, nhà máy nước, trạm xử lý nước thải tập trung, khu xử lý rác thải tập trung, nghĩa trang và nhà tang lễ.

Định hướng phát triển năng lượng theo hướng xanh, bền vững, với yêu cầu đảm bảo đồng bộ, thống nhất với giải pháp về không gian đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển thành phố, phát huy giá trị động lực nổi trội và rõ các giải pháp tạo lập hệ sinh thái kinh tế - đô thị. Phát triển hệ thống “hạ tầng cửa ngõ” làm nền tảng cho phát triển logistics, công nghiệp, hạn chế xung đột với không gian đô thị.

Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chiến lược của thành phố với 5 loại hình giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, đường biển và đường hàng không theo hướng hiện đại, phù hợp với định hướng quy hoạch quốc gia. Cần bảo đảm kết nối nội vùng và liên vùng, trong đó chú trọng tăng cường kết nối thành phố về phía Tây thành phố với Lào, Campuchia và khu vực Tây Nguyên. Xác định rõ các điểm nghẽn và các khu vực cần ưu tiên đầu tư trong chiến lược kết nối giao thông Đông - Tây thành phố.

Nghiên cứu các mô hình giao thông đô thị tiên tiến, đặc biệt là giao thông thông minh, phương tiện tự hành, hệ thống hạ tầng cảm biến và trạm sạc điện; nghiên cứu khả năng phát triển các tuyến giao thông công cộng khối lượng lớn và các tuyến đường sắt đô thị, đường sắt tự động ven biển nhằm tăng cường kết nối các trung tâm đô thị, các khu chức năng, sân bay và hệ thống cảng biển của thành phố.

Xem thêm

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

(CLO) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý đối với dự thảo Nghị định sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật PPP, trong đó đề xuất điều chỉnh một số quy định tại Nghị định 257/2025/NĐ-CP nhằm tăng tính khả thi trong triển khai các dự án hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

(CLO) UBND tỉnh Lào Cai vừa phê duyệt chủ trương đầu tư dự án hầm đường bộ Hàm Rồng với tổng mức đầu tư 2.500 tỉ đồng. Công trình được kỳ vọng tạo thêm trục kết nối giữa Quốc lộ 4D và tỉnh lộ 152, góp phần giảm áp lực giao thông, mở rộng không gian phát triển đô thị và du lịch tại Sa Pa.

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

(CLO) Việc kiểm tra thuế bằng phương thức điện tử giúp người nộp thuế có thể cung cấp hồ sơ, giải trình và làm việc với cơ quan thuế hoàn toàn trên môi trường số, không cần tiếp xúc trực tiếp trong phần lớn các trường hợp. Quy trình này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế phát sinh phiền hà, sách nhiễu trong quá trình kiểm tra thuế.

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

(CLO) Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh, đồng thời việc nâng hạng thị trường không phải là đích đến mà là động lực để thúc đẩy cải cách toàn diện thị trường vốn.

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

(NB&CL) Các “ông lớn” đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc đều đánh giá cao môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tiếp tục củng cố niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào triển vọng phát triển của Việt Nam.

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

(CLO) AI không còn là công nghệ của tương lai mà đã trở thành công cụ hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống. Trong bối cảnh cuộc đua AI toàn cầu diễn ra ngày càng quyết liệt, Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào thế hệ nhà sáng tạo trẻ có thể tạo ra những sản phẩm AI Make in Vietnam và những doanh nghiệp công nghệ mới trong tương lai.

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

(CLO) Hơn 100 tỷ USD đã được các nước vùng Vịnh rót vào châu Phi trong một thập kỷ qua, biến lục địa này thành một trong những điểm đến đầu tư chiến lược của Trung Đông. Đằng sau làn sóng vốn khổng lồ là mục tiêu đa dạng hóa nền kinh tế, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu và mở rộng ảnh hưởng địa chính trị.

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

(CLO) Ngày 17/7, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Meta, AI for Vietnam và các đối tác tổ chức Lễ phát động Chương trình Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam (Vietnam Innovation Challenge - VIC) 2026 và công bố kế hoạch đăng cai Cuộc thi Olympic Trí tuệ nhân tạo Quốc tế (International Artificial Intelligence Olympiad - IAIO) 2027.

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

(CLO) Các đặc khu kinh tế được kỳ vọng trở thành những cực tăng trưởng mới của Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng khốc liệt, chỉ riêng các chính sách ưu đãi là chưa đủ để thu hút những "đại bàng" công nghệ và dòng vốn chất lượng cao.

 Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

(CLO) 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong hơn hai thập niên. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới: Chính khi các chỉ số vĩ mô đang thuận lợi nhất này cần nhìn thẳng vào những vấn đề cơ cấu đang tích tụ phía sau bức tranh tăng trưởng để nhận diện đúng các thách thức và chuẩn bị dư địa cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

(CLO) Kiên định với mục tiêu đưa nền kinh tế bước vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030, Lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã có chỉ đạo mạnh mẽ về yêu cầu đổi mới toàn diện tư duy điều hành, nâng cao năng lực thực thi và tháo gỡ mọi rào cản nguồn lực. Trả lời phỏng vấn báo Nhà báo và Công luận, GS. Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân đã phân tích về những điều kiện then chốt, những "nút thắt" cần tháo gỡ để biến quyết tâm chính trị thành động lực phát triển thực chất và bền vững

Kiên quyết xử lý tình trạng 'có tiền mà không tiêu được', hướng tới giải ngân 100% vốn đầu tư công

Kiên quyết xử lý tình trạng 'có tiền mà không tiêu được', hướng tới giải ngân 100% vốn đầu tư công

(CLO) Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong năm 2026, Chính phủ đã ban hành kịch bản tăng trưởng cho 6 tháng cuối năm với hàng loạt giải pháp quyết liệt. Đáng chú ý, Chính phủ yêu cầu kiên quyết điều chuyển vốn từ các bộ, ngành, địa phương giải ngân chậm, chấm dứt tình trạng "có tiền mà không tiêu được".

Cỡ chữ bài viết: