Đáng chú ý, các chuyến bay quá cảnh đạt 216.601 lần chuyến, tăng 5,1% và các chuyến bay đi, đến đạt 278.645 lần chuyến, tăng 7,67% so với cùng kỳ.
Sản lượng khai thác tăng mạnh trong nhiều giai đoạn cao điểm, hoạt động cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay vẫn được duy trì an toàn, điều hòa và thông suốt trên toàn mạng điều hành bay. Các chỉ số an toàn vẫn được VATM kiểm soát.
Theo bộ chỉ số an toàn (SSP), lĩnh vực không lưu không phát sinh sự cố mức D có nguyên nhân trực tiếp từ dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, lĩnh vực kỹ thuật ghi nhận 7 vụ việc mức E.
Mặc dù số vụ việc mức E tăng, mức độ nghiêm trọng đã giảm khi không phát sinh sự cố mức D đã cho thấy hiệu quả của công tác quản lý an toàn, nhận diện nguy cơ và kiểm soát rủi ro trong toàn hệ thống.
Cùng với nhiệm vụ điều hành bay, VATM tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp tối ưu hóa vùng trời và nâng cao năng lực khai thác.
Với lĩnh vực thiết kế phương thức bay, Tổng công ty đã hoàn thành 236 phương thức bay, gồm 90 phương thức khởi hành (SID), 86 phương thức đến (STAR) và 60 phương thức tiếp cận.
Đồng thời triển khai thiết kế, điều chỉnh phương thức bay tại nhiều sân bay trọng điểm như Long Thành, Phú Quốc, Gia Bình, Cà Mau, Phù Cát và Vân Đồn.
Việc hoàn thiện các phương thức bay mới không chỉ góp phần tối ưu hóa vùng trời, nâng cao hiệu quả khai thác mà còn tạo nền tảng kỹ thuật phục vụ các dự án hạ tầng hàng không trọng điểm trong thời gian tới.
Về quản lý luồng không lưu (ATFM), công cụ điều tiết thời gian cất cánh tính toán (CTOT) tiếp tục phát huy hiệu quả.
Toàn mạng có 18.272 chuyến bay áp dụng CTOT, chiếm tỷ lệ bình quân 3,72% trên tổng số chuyến bay cất, hạ cánh.
Ngoài ra, ghi nhận 2.603 chuyến bay chờ, trong đó Nội Bài và Tân Sơn Nhất chiếm hơn 70%. VATM sẽ tiếp tục nghiên cứu, triển khai các giải pháp tối ưu hóa luồng không lưu tại các khu vực có mật độ khai thác cao.