Với những nhà giáo đã có 10-15 năm cống hiến, việc đánh giá đúng năng lực không chỉ liên quan đến thu nhập mà còn là sự ghi nhận đối với quá trình phấn đấu nghề nghiệp.
| Tiêu chí | Phương án 1 | Phương án 2 |
| Căn cứ bổ nhiệm | Đánh giá theo tiêu chuẩn, năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. | Chuyển hạng theo nhóm đối tượng quy định trong dự thảo. |
| Mức độ ghi nhận quá trình công tác | Cao | Thấp |
| Khả năng tạo động lực | Cao | Có thể thấp hơn đối với giáo viên đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn |
| Tính phân loại đội ngũ | Rõ ràng | Hạn chế |
| Khả năng tạo đồng thuận | Cao | Có thể phát sinh nhiều ý kiến băn khoăn |
| Hiệu quả quản trị nhân lực | Phù hợp với nguyên tắc đánh giá theo năng lực | Đơn giản trong tổ chức thực hiện nhưng ít phản ánh sự khác biệt giữa các trường hợp |
Ai đủ chuẩn, hãy để họ được giữ hạng
Góp ý vào dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp và xếp lương đối với nhà giáo, thầy Bùi Tiến Đông (Hưng Yên) cho rằng, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên lựa chọn Phương án 1 đối với giáo viên được bổ nhiệm ngay hạng cao trong giai đoạn từ ngày 3/11/2015 đến 20/3/2021.
Theo thầy Đông, điểm quan trọng nhất của Phương án 1 là không mặc nhiên giữ hạng cho tất cả giáo viên, nhưng cũng không mặc nhiên đưa tất cả xuống hạng thấp hơn. Việc tiếp tục giữ hạng được đặt trên các điều kiện cụ thể về phẩm chất, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn, nhiệm vụ đang thực hiện và kết quả đánh giá công tác.
Như vậy, giáo viên đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của hạng đang giữ và được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ thì có cơ sở tiếp tục được bổ nhiệm vào hạng tương ứng. Chỉ những trường hợp không đáp ứng yêu cầu mới phải bổ nhiệm xuống hạng thấp hơn.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu quản trị đội ngũ hiện nay khi năng lực, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp phải là những căn cứ quan trọng để đánh giá nhà giáo.
“Việc ghi nhận đúng năng lực của giáo viên không chỉ là vấn đề về hạng chức danh nghề nghiệp, mà còn liên quan trực tiếp đến niềm tin, động lực và sự ổn định của đội ngũ”, thầy Đông nhấn mạnh.
Công bằng không có nghĩa ai cũng nhận một kết quả
Cùng kiến nghị lựa chọn Phương án 1, cô Vũ Thị Hương (Hà Nội) nhìn vấn đề từ góc độ quản trị nguồn nhân lực.
Theo cô Hương, việc bổ nhiệm lại chức danh nghề nghiệp lần này không đơn thuần là xử lý một vấn đề hành chính hay giải quyết một bất cập của quá khứ. Quan trọng hơn, đây là cơ hội để xác lập cách thức đánh giá và phát triển đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn mới.
Một chính sách hợp lý, theo cô, phải vừa khắc phục được những bất cập trước đây, vừa không tạo ra bất cập mới trong hiện tại và tương lai. Vì vậy, yếu tố cần được đặt ở vị trí trung tâm là năng lực thực tế và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp tại thời điểm xem xét.
Không ít giáo viên được giao đảm nhiệm các nhiệm vụ chuyên môn có yêu cầu cao như tổ trưởng chuyên môn, giáo viên cốt cán, hướng dẫn đồng nghiệp, xây dựng chuyên đề, bồi dưỡng học sinh giỏi... Những năng lực này không thể chỉ nhìn vào thời điểm giáo viên được bổ nhiệm nhiều năm trước, mà được hình thành, bồi đắp và kiểm chứng qua cả một quá trình công tác.
Từ đó, cô Hương cho rằng, cần nhìn nhận công bằng trong quản lý theo một cách khác: công bằng không có nghĩa là mọi người đều nhận cùng một kết quả, mà là những người có mức độ đáp ứng khác nhau phải được đánh giá theo cùng một hệ thống tiêu chí và được ghi nhận đúng với năng lực của mình.
Theo cô, Phương án 1 đáp ứng được yêu cầu này bởi không mặc nhiên giữ hạng cho tất cả giáo viên. Người được giữ hạng phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, đang thực hiện nhiệm vụ tương ứng và được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cơ sở minh chứng khách quan, công khai, minh bạch.
“Ai đáp ứng tiêu chuẩn thì được giữ hạng, ai chưa đáp ứng thì tiếp tục phấn đấu” là cách cô Hương nhìn nhận về cơ chế này.
Năng lực giáo viên không còn là câu chuyện của năm 2015
Một điểm được các giáo viên đặc biệt nhấn mạnh là không nên chỉ nhìn vào hoàn cảnh bổ nhiệm trong quá khứ để quyết định chức danh nghề nghiệp ở thời điểm hiện tại.
Nhóm giáo viên được đề cập trong dự thảo phần lớn đã trải qua một chặng đường nghề nghiệp dài. Trong khoảng thời gian đó, yêu cầu đối với giáo viên cũng thay đổi mạnh mẽ.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra những yêu cầu mới về phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Chuyển đổi số mở rộng yêu cầu ứng dụng công nghệ trong dạy học. Giáo viên cũng phải thường xuyên tham gia các chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và thích ứng với những thay đổi của nhà trường.
Những thay đổi đó cho thấy năng lực nghề nghiệp không phải một yếu tố “đóng khung” tại thời điểm tuyển dụng hay bổ nhiệm. Đó là một quá trình tích lũy.
Vì vậy, theo các giáo viên, nếu tại thời điểm xem xét, một nhà giáo đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của hạng II, đang thực hiện nhiệm vụ của hạng II và nhiều năm hoàn thành tốt nhiệm vụ, thì năng lực hiện tại cần được coi là căn cứ quan trọng.
Nếu chỉ vì một cách thức bổ nhiệm trong quá khứ mà bỏ qua quá trình phát triển nghề nghiệp sau đó, chính sách có thể chưa phản ánh đầy đủ thực tế đội ngũ.
Từ câu chuyện chức danh đến quyền lợi tiền lương
Việc giáo viên quan tâm đến quy định này không chỉ xuất phát từ tên gọi của chức danh nghề nghiệp.
Hạng chức danh nghề nghiệp gắn với hệ số lương và các chế độ phụ cấp, vì vậy việc một giáo viên bị chuyển từ hạng II xuống hạng III có thể tác động trực tiếp đến thu nhập.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thời gian qua, một số địa phương đã không bổ nhiệm giáo viên từ hạng II cũ lên hạng II mới, thậm chí xếp xuống hạng III để bảo đảm cơ cấu tỷ lệ chức danh nghề nghiệp trong trường học.
Bộ cho rằng, việc chuyển đổi chức danh nghề nghiệp từ quy định năm 2015 sang quy định năm 2021 về bản chất là chuyển tiếp tương đương, không phải căn cứ để hạ hạng giáo viên.
Đáng chú ý, dự thảo sửa đổi, bổ sung Thông tư 31/2026 theo hướng những giáo viên hạng I, hạng II đủ điều kiện nhưng từng bị hạ hạng sẽ được xem xét khôi phục hạng tương ứng, đồng thời truy lĩnh phần tiền lương và phụ cấp chênh lệch trong thời gian bị xếp sai theo quy định.
Từ những phân tích trên, các giáo viên cho rằng, điều quan trọng nhất khi hoàn thiện quy định là xây dựng được một cơ chế đánh giá rõ ràng, có thể áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
Cô Hương mong muốn, Bộ GD&ĐT cần quy định cụ thể về tiêu chí xác định giáo viên đáp ứng tiêu chuẩn của từng hạng, hệ thống minh chứng, quy trình xem xét và trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý trong từng khâu.
Nếu làm được điều này, Phương án 1 sẽ không bị hiểu là cơ chế “giữ hạng cho tất cả”, mà trở thành một cơ chế đánh giá thực chất: Đủ tiêu chuẩn thì được ghi nhận, chưa đủ thì tiếp tục phấn đấu.