Từ “gộp trường” đến tạo những “siêu đại học”
Kế hoạch 06-KH/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập trước ngày 1/4/2027. Theo TS Nghĩa, đây không chỉ là bài toán giảm số lượng đầu mối mà còn là cơ hội để tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học theo chiều sâu.
Điều quan trọng, theo ông, là sau sắp xếp phải tạo ra những cơ sở giáo dục có quy mô lớn hơn, hoạt động hiệu quả hơn và năng lực cạnh tranh cao hơn, thay vì đơn thuần đưa nhiều trường về chung một đầu mối hành chính.
“Sáp nhập đại học không thể chỉ là phép cộng cơ học mà phải lấy chất lượng đào tạo và người học làm trung tâm”, TS Nghĩa nhấn mạnh.
Theo ông, với những trường đại học quy mô nhỏ, đơn ngành nhưng đào tạo các lĩnh vực có tính tương hỗ cao như kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ, luật, công nghệ, nếu cùng nằm trên một địa bàn hoặc trong một vùng kinh tế, việc sáp nhập có thể được tính toán theo hướng hình thành đại học đa lĩnh vực.
Mô hình này không chỉ giúp chia sẻ cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm và các nguồn lực khác mà còn tạo điều kiện thúc đẩy đào tạo liên ngành - một yêu cầu ngày càng quan trọng của giáo dục đại học hiện đại.
Quan trọng hơn, việc tập hợp nguồn lực có thể tạo ra những đại học đủ lớn về quy mô đào tạo, nghiên cứu, đội ngũ và tiềm lực tài chính, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh.
Mục tiêu xa hơn là hình thành những “siêu đại học” đủ quy mô và sức mạnh cạnh tranh để xuất hiện trên các bảng xếp hạng quốc tế.
Đây là một hướng tiếp cận đáng chú ý trong quá trình sắp xếp hệ thống: thay vì nhìn sáp nhập đơn thuần như giải pháp giảm đầu mối, có thể coi đây là cơ hội tập trung nguồn lực, tạo ra những trung tâm giáo dục đại học lớn có khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Không phải cứ sáp nhập là thành “siêu đại học”
Tuy nhiên, TS Nghĩa lưu ý không nên hiểu “siêu đại học” đơn giản là một trường có thật nhiều sinh viên hoặc nhiều ngành đào tạo.
Quy mô chỉ có ý nghĩa khi đi cùng chất lượng, năng lực nghiên cứu, đội ngũ, cơ sở vật chất, khả năng tự chủ và hiệu quả quản trị.
Vì vậy, việc lựa chọn các trường để sáp nhập cần dựa trên nhiều tiêu chí, từ vị trí địa lý, quy hoạch mạng lưới, định hướng phát triển đến cơ cấu ngành đào tạo.
Các trường trên cùng địa bàn hoặc có lĩnh vực đào tạo bổ trợ nên được ưu tiên xem xét để có thể chia sẻ nguồn lực và phát huy thế mạnh của nhau. Ngược lại, cần tránh sáp nhập những cơ sở có mô hình đào tạo quá trùng lặp hoặc quá khác biệt, bởi khi đó việc “gộp” có thể chỉ làm tăng quy mô hành chính mà không tạo thêm giá trị học thuật.
Theo ông, sau sáp nhập, trường phải đồng thời đổi mới quản trị, đồng bộ chuẩn chất lượng, nâng cao khả năng tự chủ tài chính và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất.
Một đại học lớn nhưng quản trị cồng kềnh, chất lượng không đồng đều, nguồn lực bị phân tán thì chưa thể trở thành một “siêu đại học” theo đúng nghĩa.
Có thể hình thành đại học đa lĩnh vực, nhưng vẫn phải giữ thế mạnh riêng
TS Nghĩa cũng chỉ rõ, không có một mô hình sáp nhập duy nhất đúng cho tất cả các trường.
Việc tái cấu trúc cần kết hợp linh hoạt giữa đại học đa lĩnh vực và những trường chuyên ngành có thế mạnh riêng, tùy thuộc sứ mạng, quy mô, ngành đào tạo và điều kiện thực tế.
Với những trường nhỏ, đơn ngành, có các lĩnh vực đào tạo tương hỗ, việc hợp nhất thành đại học đa lĩnh vực có thể giúp giải quyết bài toán đào tạo liên ngành, tối ưu hóa nguồn lực và tạo ra quy mô đủ lớn để cạnh tranh.
Trong khi đó, những cơ sở có thế mạnh chuyên ngành, sứ mạng đặc thù vẫn cần được tổ chức phù hợp để không đánh mất lợi thế đã gây dựng.
“Khó có một mô hình duy nhất đúng cho mọi trường. Sáp nhập và tái cấu trúc hiệu quả phải kết hợp song song cả hai mô hình, áp dụng linh hoạt theo mục tiêu chiến lược”, TS Nghĩa nhận định.
Theo chuyên gia, hệ thống giáo dục đại học cũng cần được phân nhóm theo sứ mạng. Các đại học nghiên cứu có thể tập trung vào đào tạo sau đại học, nghiên cứu khoa học, phát minh, sáng chế và công bố quốc tế; đại học ứng dụng và thực hành tập trung đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng cao.
Ở cấp độ quốc gia, nhóm đại học quốc gia, đại học trọng điểm có thể đóng vai trò “đầu tàu”, cạnh tranh trực tiếp với các đại học trong khu vực và thế giới. Trong khi đó, các đại học vùng, địa phương cần gắn chặt với chuỗi cung ứng nhân lực và thế mạnh kinh tế của từng địa bàn.
“Siêu đại học” không thể được xây bằng phép cộng hành chính
Đối với thách thức lớn nhất của quá trình sáp nhập, TS Nghĩa cho rằng nó không nằm ở việc ban hành quyết định hợp nhất, mà ở cách tổ chức để những giá trị của các trường sau sáp nhập thực sự cộng hưởng.
Mỗi trường có lịch sử, thương hiệu, đội ngũ và văn hóa học thuật riêng. Nếu quá trình sắp xếp làm đứt gãy những giá trị này, gây xáo trộn đội ngũ hoặc khiến sinh viên hoang mang, mục tiêu nâng cao chất lượng sẽ khó đạt được.
Vì vậy, quyền lợi của người học phải được đặt lên hàng đầu. Sinh viên đang theo học cần tiếp tục chương trình, quy chế tuyển sinh và mức học phí đã cam kết khi nhập học; không bị buộc thay đổi chuẩn đầu ra giữa chừng.
Với giảng viên, cần sớm xác định vị trí việc làm, công khai phương án bố trí nhân sự và bảo đảm lực lượng giảng dạy nòng cốt.
“Sáp nhập không có nghĩa là xóa bỏ những giá trị đã được xây dựng. Các cơ sở sau sáp nhập phải biết kế thừa và hòa nhập văn hóa học thuật để hình thành bản sắc mới, nhưng vẫn tôn trọng di sản và thương hiệu của từng trường”, TS Nghĩa nói.
Bài toán lớn nhất là tập trung nguồn lực
Muốn hình thành những đại học đủ sức cạnh tranh quốc tế, theo TS Nghĩa, việc sáp nhập phải đi cùng với tập trung nguồn lực.
Một trong những lợi ích lớn nhất của mô hình này là khả năng dùng chung cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, đội ngũ chuyên gia, hệ thống quản trị và các nguồn lực nghiên cứu.
Thay vì nhiều trường cùng đầu tư những cơ sở vật chất tương tự nhưng quy mô nhỏ, nguồn lực có thể được tập trung để hình thành các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và chương trình đào tạo có quy mô lớn hơn.
Cùng với đó là yêu cầu nâng cao khả năng tự chủ tài chính và quản trị. Những cơ sở có mức độ tự chủ cao cần được trao quyền lớn hơn về tổ chức bộ máy, tuyển sinh, học phí và hợp tác quốc tế; Nhà nước chuyển mạnh từ quản lý trực tiếp sang quản lý bằng mục tiêu và kiểm định chất lượng.
“Siêu đại học” vì thế không đơn thuần là một trường có nhiều khoa, nhiều sinh viên, mà phải là một hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu đủ mạnh, trong đó các nguồn lực được tập trung để tạo ra năng lực mà từng trường riêng lẻ khó có thể đạt được.
8 tháng để làm một cuộc tái cấu trúc sâu là thách thức lớn
Về thời hạn hoàn thành mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối trước ngày 1/4/2027, TS Nghĩa cho rằng đây là rất thách thức nếu vẫn thực hiện theo quy trình hành chính thông thường.
Những vấn đề như cơ quan chủ quản, phân bổ ngân sách, tài sản công, đất đai, tài chính, các khoản nợ hay dự án đầu tư dở dang có thể khiến quá trình sáp nhập kéo dài.
Đặc biệt, việc xử lý đội ngũ cán bộ quản lý dôi dư cần có lộ trình phù hợp để tránh xáo trộn nội bộ.
Do đó, để biến chủ trương sáp nhập thành cơ hội tái cấu trúc, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành liên quan cần hỗ trợ các trường tháo gỡ những rào cản về cơ chế, tài chính, tài sản và tổ chức bộ máy.
Chính phủ yêu cầu khẩn trương hoàn thành sắp xếp trường công lập
Liên quan đến tiến độ sắp xếp hệ thống giáo dục, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 216/NQ-CP ngày 6/8/2026 tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026.
Theo đó, Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn trước ngày 30/8/2026.
Đối với lĩnh vực giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo được yêu cầu khẩn trương hoàn thiện, trình ban hành Đề án sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Bộ cũng được giao triển khai, đôn đốc các địa phương sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập; đồng thời bố trí cán bộ quản lý cơ sở giáo dục vào những vị trí việc làm phù hợp, góp phần giải quyết tình trạng thiếu giáo viên.