Những loại thuốc gây ung thư nếu lạm dụng trong thời gian dài

(CLO) Theo nghiên cứu của các chuyên gia, một trong các nguyên nhân gây ra ung thư đó là lạm dụng hoạt chất trong biệt dược. Được biết, Molnupiravir, Glucocorticoid, Steroid đồng hóa,… là những loại thuốc nâng cao tỉ lệ mắc ung thư nếu lạm dụng bừa bãi.
nhung loai thuoc gay ung thu neu lam dung trong thoi gian dai hinh 1

Molnupiravir: Thuốc kháng virus được FDA phê duyệt khẩn cấp trong điều trị Covid-19 ở bệnh nhân thể nhẹ và trung bình. Thuốc giúp giữ cho số lượng virus trong cơ thể ở mức thấp bằng cách tạo đột biến để ngăn chặn sự nhân lên virus, giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh. Tuy nhiên, thuốc chỉ được khuyến cáo dùng tối đa 5 ngày với liều chỉ định. Việc tự ý dùng quá liều sẽ làm tăng nguy cơ gây đột biến (dẫn tới ung thư) của thuốc. Các thuốc kháng virus với cấu trúc giống nucleoside (thành phần tạo nên vật liệu di truyền) nói chung đều có khả năng gây nên một số độc tính nguy hiểm (đặc biệt nếu dùng quá liều) như ức chế hệ miễn dịch, gây bội nhiễm, ung thư, tan máu...

nhung loai thuoc gay ung thu neu lam dung trong thoi gian dai hinh 2

Glucocorticoid (Corticosteroid): Glucocorticoid hiện được sử dụng phổ biến như một trong các thuốc điều trị tại nhà cho bệnh nhân Covid-19 dù không thuộc khuyến cáo của Bộ Y tế. Loại thuốc này ngoài kháng viêm còn có tác dụng ức chế miễn dịch khiến người ta lo ngại việc sử dụng chúng có thể thúc đẩy ung thư liên quan đến miễn dịch như ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy, u ác tính và ung thư hạch không Hodgkin. Sử dụng Glucocorticoid đường uống thời gian càng lâu (trên một năm) thì nguy cơ ung thư cũng sẽ tăng theo.

nhung loai thuoc gay ung thu neu lam dung trong thoi gian dai hinh 3

Steroid đồng hóa: Steroid đồng hóa là các biến thể tổng hợp của hormone giới tính nam, ví dụ như testosterone là hormone mạnh nhất ở nam giới, steroid đồng hóa được coi là một loại thuốc có tác dụng kích thích tăng trưởng testosterone ở nam giới. Một số người tin rằng dùng steroid đồng hóa sẽ giúp họ trở nên cân đối và khỏe mạnh. Trên thực tế, các tác động dài hạn của việc lạm dụng thuốc như ảnh hưởng xấu đến tim mạch, rối loạn chức năng gan, khối u gan, ung thư gan, ung thư tuyến tiền liệt (chỉ dành cho nam giới)... những rủi ro tiềm ẩn khác: nhiễm trùng da, nhiễm HIV (dùng chung kim tiêm) nhiễm viêm gan...

nhung loai thuoc gay ung thu neu lam dung trong thoi gian dai hinh 4

Thuốc lợi tiểu Thiazide: Thuốc lợi tiểu loại thiazide là thuốc chống tăng huyết áp hàng đầu vì chúng là những thuốc hiệu quả, rẻ tiền và tương đối an toàn. Thiazide đã được kê đơn rộng rãi trên toàn thế giới. Một số tác giả đã nghiên cứu mối liên quan giữa việc sử dụng thiazide và nguy cơ ung thư da. Kết quả cho thấy, việc sử dụng thuốc lợi tiểu thiazide có liên quan đến việc tăng nguy cơ bị ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC), tăng nhẹ nguy cơ ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) và u hắc tố ác tính.

nhung loai thuoc gay ung thu neu lam dung trong thoi gian dai hinh 5

Thuốc giảm đau: Paracetamol và các thuốc giảm đau thuộc nhóm NSAID (không bao gồm Aspirin) khi sử dụng thường xuyên, không đúng cách trong nhiều năm có thể gây ra ung thư biểu mô đường bài xuất ở bàng quang, thận, hoặc niệu quản. Trong đó, phụ nữ dưới 50 tuổi lạm dụng thuốc giảm đau là một trong các nguyên nhân phổ biến ung thư bàng quang. Không phải lúc nào các tổn thương ở thận do thuốc giảm đau gây ra cũng biểu hiện rõ rệt. Sau 15 đến 25 năm lạm dụng thuốc, các khối u mới biểu hiện rõ ràng hơn.

nhung loai thuoc gay ung thu neu lam dung trong thoi gian dai hinh 6

Thuốc ức chế bơm Proton: Các loại thuốc này bao gồm Pantoprazole, Omeprazole, Rabeprazole,... Đây là nhóm thuốc sử dụng rộng rãi nhất trong điều trị ợ nóng, trào ngược axit dạ dày - thực quản (GERD), loét dạ dày và nhiễm trùng helicobacter pylori (H.pylori). Sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) nhìn chung không liên quan đến sự gia tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng (UTĐTT) khi so sánh với các thuốc nhóm đối kháng thụ thể histamin-2 (H2RA). Tuy nhiên, nguy cơ này có thể gia tăng khi sử dụng thuốc dài ngày. Sau 5 năm sử dụng, các nhà khoa học ước tính rằng sẽ có 1 ca UTĐTT trên mỗi 5.343 bệnh nhân sử dụng PPIs, còn sau 10 năm, tỷ lệ này tăng lên: 1 ca trên 792 bệnh nhân.

Xem thêm

Bộ Y tế cập nhật 'Hướng dẫn quốc gia' về sức khỏe sinh sản, hướng tới giảm tai biến sản khoa

Bộ Y tế cập nhật 'Hướng dẫn quốc gia' về sức khỏe sinh sản, hướng tới giảm tai biến sản khoa

(CLO) Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong cải thiện sức khỏe bà mẹ, thông qua việc mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, góp phần giảm tỷ lệ tử vong mẹ. Tuy nhiên, yêu cầu chuẩn hóa hoạt động chuyên môn trong cung cấp dịch vụ vẫn là yếu tố then chốt nhằm hạn chế sai sót và nâng cao hiệu quả điều trị.
Cỡ chữ bài viết: