Ngày 7/8, tại phiên thảo luận tổ, đóng góp ý kiến cho dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn (Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long) đề nghị quán triệt nguyên tắc: một lần khai báo phải đủ thông tin, dữ liệu để nhiều cơ quan cùng sử dụng.
Đại biểu Trần Quốc Tuấn dẫn quy định cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi tự công bố và tự thay đổi thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Theo đại biểu, nếu dữ liệu không được liên thông với Cổng dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, doanh nghiệp vẫn phải nhập cùng một thông tin trên hai hệ thống. Cách làm này không những chưa giảm chi phí tuân thủ mà còn làm tăng nguy cơ sai lệch dữ liệu và rủi ro pháp lý.
Từ đó, đại biểu Trần Quốc Tuấn đề nghị bổ sung nguyên tắc thông tin tự công bố phải được cập nhật, chia sẻ và khai thác liên thông với các cơ sở dữ liệu có liên quan; cơ quan nhà nước không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại thông tin, tài liệu đã có trong cơ sở dữ liệu. Chính phủ cần quy định rõ dữ liệu, trách nhiệm cập nhật và lộ trình liên thông.
Cùng với liên thông dữ liệu, đại biểu cho rằng tự công bố phải đi liền với hậu kiểm theo mức độ rủi ro. Việc kiểm tra cần ưu tiên nhóm hàng hóa có nguy cơ cao, cơ sở có dấu hiệu vi phạm hoặc có phản ánh; chủ thể tự công bố phải lưu giữ hồ sơ kỹ thuật, cập nhật dữ liệu, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và chịu trách nhiệm về thông tin đã công bố. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với giống, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản và các loại vật tư có thể gây thiệt hại trực tiếp cho người nông dân nếu không bảo đảm chất lượng.
Đồng tình quan điểm, đại biểu Đoàn Thu Hà (Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn) cũng nhấn mạnh nguyên tắc “cắt giảm thủ tục hành chính nhưng không cắt giảm trách nhiệm quản lý; phân quyền nhưng không phân tán quản lý”.
Theo đại biểu, thông tin tự công bố về giống cây trồng, thức ăn chăn nuôi cần được cập nhật thống nhất trong cơ sở dữ liệu quốc gia trước khi sản phẩm lưu hành, có mã định danh để truy xuất; cơ quan quản lý phải có thẩm quyền tạm dừng, thu hồi sản phẩm vi phạm và hậu kiểm theo mức độ rủi ro.
Từ thực tiễn địa bàn miền núi, biên giới, đại biểu Đoàn Thu Hà lưu ý giống cây trồng hoặc thức ăn chăn nuôi kém chất lượng thường chỉ bộc lộ hậu quả sau một chu kỳ sản xuất, khi thiệt hại đã khó khắc phục.
Với lĩnh vực thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần thống nhất quy trình, tiêu chuẩn, cơ sở dữ liệu và hệ thống cảnh báo dịch bệnh trên toàn quốc; đối với động vật, sản phẩm động vật hoặc mẫu bệnh phẩm có nguy cơ cao, phải có cơ chế thông báo, tham vấn cơ quan chuyên môn Trung ương.
Nữ đại biểu Quốc hội đề nghị xác định rõ cấp tỉnh là đầu mối quyết định, vận hành cơ sở dữ liệu và chịu trách nhiệm pháp lý; cấp xã giám sát địa bàn, phát hiện vi phạm, tiếp nhận phản ánh và phối hợp hậu kiểm nhưng không được tự đặt thêm hồ sơ, thủ tục hoặc điều kiện.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) nhận thấy có nhiều thủ tục, điều kiện đầu tư kinh doanh được đề xuất bãi bỏ hoặc đơn giản hóa theo yêu cầu cải cách và đây là chủ trương cần thiết. Tuy nhiên, đại biểu băn khoăn về tiêu chí lựa chọn các nội dung được cắt giảm nên đề nghị Ban soạn thảo làm rõ căn cứ để xác định một điều kiện kinh doanh là không còn cần thiết, trong khi những điều kiện khác vẫn tiếp tục được duy trì. Việc đánh giá có dựa trên mức độ rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng, môi trường, chất lượng sản phẩm, hay chỉ dựa trên mục tiêu giảm số lượng thủ tục hành chính?
Đại biểu Nguyễn Văn Huy nêu quan điểm, với phương pháp tư duy khi nghiên cứu xuyên suốt các dự án luật được xem xét, thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất này thì cải cách thủ tục hành chính không nên được hiểu đơn thuần là cắt giảm tối đa, mà cần chuyển từ tư duy quản lý bằng giấy phép sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro. Đối với những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm, môi trường và quyền lợi của hàng triệu hộ nông dân, việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh cần được cân nhắc hết sức thận trọng.
Theo đại biểu Nguyễn Văn Huy, thực tiễn thời gian qua cho thấy một số vụ việc liên quan đến phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hoặc giống cây trồng kém chất lượng đã gây thiệt hại lớn cho người sản xuất. Trong nhiều trường hợp, chi phí xã hội để xử lý hậu quả còn lớn hơn rất nhiều so với chi phí tuân thủ một thủ tục hành chính được thiết kế hợp lý.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ phương pháp đánh giá rủi ro, tiêu chí lựa chọn nội dung cắt giảm và các biện pháp quản lý thay thế, để bảo đảm mục tiêu cải cách thủ tục hành chính đi đôi với yêu cầu quản lý nhà nước hiệu quả và bảo vệ lợi ích của người dân…
Theo tờ trình của Chính phủ, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, có nội dung cơ bản gồm:
Sửa đổi, bổ sung 8 luật để cắt giảm 40 thủ tục hành chính, đơn giản hoá 12 thủ tục hành chính và cắt giảm 40 điều kiện kinh doanh;
Sửa đổi, bổ sung 4 luật để phân quyền 24 thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện;
Ngoài 2 nội dung chính nêu trên, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong nội tại của các luật được sửa đổi, bổ sung, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều khoản khác có mối liên hệ với hai nội dung nêu trên, không phát sinh chính sách mới.
Dự kiến Luật có hiệu lực thi hành từ 01/01/2027.