Muốn vào Top 30 kinh tế thế giới, Việt Nam không thể né bài toán năng suất

(CLO) Trong nhiều năm qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục duy trì ở mức khá cao so với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá xa so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Bước vào giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt ra hai mục tiêu kép, vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa nâng cao chất lượng tăng trưởng để tiến nhanh vào Top 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đây là tuyên ngôn thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ sau hơn ba thập kỷ Đổi mới, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu về những đột phá mang tính hệ thống, đặc biệt trong nâng cao năng suất.

Liên quan tới vấn đề này, PGS.TS Ngô Văn Quang, Trưởng khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế, Đại học Công Nghiệp Hà Nội khẳng định: Nâng cao năng suất lao động chính là động lực cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

z7419932266727_45f832192a2084c125a8cf38d088c30b.jpg
PGS.TS Ngô Văn Quang, Trưởng khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế, Đại học Công Nghiệp Hà Nội. Ảnh: HH.

+ Thưa ông, vì sao năng suất lao động của Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực, dù tốc độ tăng trưởng GDP khá cao trong nhiều năm qua?

- Có thể nói, năng suất lao động là “chìa khóa vàng” của tăng trưởng dài hạn, phản ánh trực tiếp giá trị gia tăng mà mỗi người lao động tạo ra và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh nguồn lực ngày càng hạn chế. Nâng cao năng suất lao động chính là động lực cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Tuy nhiên, tính đến năm 2024, năng suất lao động của Việt Nam chỉ đạt khoảng 7.200-8.500 USD/lao động/năm, thấp xa so với nhiều quốc gia trong khu vực, cho thấy khoảng cách lớn về chất lượng tăng trưởng dù GDP tăng khá cao.

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cấu trúc kinh tế còn dựa nhiều vào các ngành giá trị gia tăng thấp, hạn chế về quản trị, công nghệ, kỹ năng lao động và mức độ tự động hóa, số hóa, trong khi nhiều sản phẩm vẫn xuất khẩu dưới dạng thô.

Mặc dù GDP của Việt Nam đã tăng nhanh, nhưng “động cơ năng suất” chưa được cải thiện tương xứng, trở thành điểm nghẽn lớn nhất của mô hình tăng trưởng hiện nay.

+ Thưa ông, chuyển đổi số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đang được xem là động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động. Tuy nhiên, thực tế triển khai tại doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang diễn ra như thế nào, đặc biệt giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa?

- Chuyển đổi số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo hiện nay chính là động cơ mạnh nhất để tạo ra “năng suất nhảy vọt” cho doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế đang tồn tại một bức tranh “hai tốc độ”.

Ở nhóm doanh nghiệp lớn và FDI, mức độ ứng dụng công nghệ đã tương đối tốt: hệ thống ERP, tự động hóa dây chuyền, robot công nghiệp, quản trị chất lượng số hóa, phân tích dữ liệu và thậm chí AI đã bắt đầu được triển khai trong một số khâu sản xuất, logistics và bán hàng. Đây là nhóm có năng suất cao và đang kéo mặt bằng năng suất của nền kinh tế đi lên.

Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm hơn 95% số doanh nghiệp mới dừng lại ở mức “số hóa bề mặt” như kế toán, marketing, nhưng chưa đi vào số hóa quy trình lõi như sản xuất, kho vận, chất lượng, kế hoạch. Khoảng cách này khiến năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế bị kéo chậm lại.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) chậm chuyển đổi số không phải vì thiếu quyết tâm, mà chủ yếu do hạn chế về nguồn lực. Để SME có thể tham gia hiệu quả, cần chuyển từ cách làm manh mún sang tiếp cận theo hệ sinh thái và chuỗi giá trị.

Trọng tâm là ba giải pháp, đó là xây dựng khung chuyển đổi số theo từng ngành để doanh nghiệp biết bắt đầu từ đâu và đi theo lộ trình phù hợp; phát triển các nền tảng số dùng chung và dịch vụ thuê bao (SaaS/Cloud) nhằm giảm chi phí đầu tư ban đầu; đồng thời hình thành mạng lưới chuyên gia tư vấn giúp SME có chiến lược dài hạn và ứng dụng công nghệ một cách thực chất.

Khi đó, chuyển đổi số sẽ không chỉ dừng ở việc mua phần mềm, mà trở thành công cụ nâng cao năng suất, giúp SME tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và góp phần nâng mặt bằng năng suất của nền kinh tế.

34-37-1.png
Năng suất lao động là “chìa khóa vàng” của tăng trưởng dài hạn. Ảnh: LD.

+ Một trong những “điểm nghẽn” của năng suất là chất lượng nguồn nhân lực. Theo ông, giải pháp nào để Việt Nam có thể nâng tầm kỹ năng, trình độ lao động, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.

- Một điểm nghẽn lớn của năng suất lao động Việt Nam hiện nay là sự thiếu hụt và yếu kém về kỹ năng của người lao động và đội ngũ quản lý trung gian - lực lượng trực tiếp quyết định hiệu quả sản xuất. Để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế công nghệ cao giai đoạn 2026-2030, cần triển khai chương trình nâng cấp nhân lực dựa trên bốn khía cạnh chính:

Thứ nhất, Việt Nam cần tái cấu trúc giáo dục nghề và đào tạo kỹ thuật theo chuẩn doanh nghiệp. Trong đó, trọng tâm đó là chuyển từ đào tạo theo môn học sang đào tạo theo chuẩn kỹ năng, chuẩn đầu ra và vị trí việc làm, tăng thời lượng thực hành, mô phỏng dây chuyền số, và học theo dự án thực tế.

Thứ hai, mở rộng mô hình đào tạo kép. Cụ thể, doanh nghiệp cần tham gia trực tiếp thiết kế chuẩn đầu ra, đánh giá năng lực và tiếp nhận học viên thực tập có trả lương. Điều này giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và sản xuất, giúp sinh viên ra trường có thể làm việc được ngay và doanh nghiệp giảm chi phí đào tạo và đào tạo lại nhân sự.

Thứ ba, triển khai chương trình upskilling (nâng cao kỹ năng) và reskilling (tái đào tạo) quy mô lớn cho lực lượng lao động đang làm việc. Trọng tâm là kỹ năng số, văn hoá chất lượng, tư duy cải tiến liên tục, vận hành tự động hóa và phân tích dữ liệu.

Thứ tư, xây dựng văn hóa lao động với tác phong công nghiệp như một năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong số các yếu tố là đúng giờ, đúng quy trình, đúng tiêu chuẩn, tinh thần kỷ luật và tinh thần cải tiến đổi mới sáng tạo trong công việc.

laodong-16994315088001371118247.jpg
Việt Nam cần tái cấu trúc giáo dục nghề và đào tạo kỹ thuật theo chuẩn doanh nghiệp. Ảnh: CP.

+ Nhiều ý kiến cho rằng thể chế là “điểm khởi phát” của năng suất. Ông đánh giá vai trò của môi trường chính sách minh bạch, ổn định và thủ tục tinh gọn đối với đầu tư dài hạn và năng suất lao động như thế nào?

- Để Việt Nam trở thành nền kinh tế năng suất cao, cần tiếp cận một cách tổng thể nhưng có thứ tự ưu tiên rõ ràng: Thể chế, con người, công nghệ và văn hóa năng suất.

Đầu tiên là thể chế với môi trường chính sách minh bạch, ổn định và thủ tục tinh gọn để tạo niềm tin cho đầu tư dài hạn. Tiếp đến là con người, yếu tố quyết định để tạo ra năng suất, đặc biệt là đội ngũ quản lý trung gian và kỹ thuật vận hành.

Trên nền tảng đó, công nghệ, nhất là tự động hóa, dữ liệu và AI trở thành động cơ tăng tốc năng suất. Cuối cùng, văn hóa năng suất giữ vai trò duy trì và lan tỏa cải tiến liên tục, biến hiệu quả thành thói quen tổ chức.

Để đưa năng suất lao động trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần một chính sách quốc gia về năng suất được thiết kế bài bản, có trọng tâm và gắn chặt với cấu trúc của nền kinh tế.

Chính sách quốc gia về năng suất cũng cần được xây dựng theo năm nguyên tắc cốt lõi: chuyển từ phong trào sang hệ thống với mục tiêu và cơ chế giám sát rõ ràng; lấy ngành làm trung tâm với bộ chỉ số, lộ trình công nghệ và kỹ năng riêng; ưu tiên khu vực SME - lực lượng quyết định mặt bằng năng suất; hình thành hệ thống dữ liệu năng suất quốc gia để đo lường TFP và năng suất theo ngành, vùng, chuỗi giá trị; đồng thời kết nối các trụ cột chính sách về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, doanh nhân và nhân lực thành một kiến trúc năng suất thống nhất.

Xin cảm ơn ông!

Xem thêm

Ninh Bình: Kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực

Ninh Bình: Kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực

(CLO) Theo báo cáo của Thống kê tỉnh Ninh Bình, tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 của tỉnh tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, du lịch tăng trưởng mạnh; đầu tư công được đẩy nhanh, trong khi đời sống dân cư cơ bản ổn định.
Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

Doanh nghiệp nhà nước cần một cuộc cải cách thể chế thực chất

(NB&CL) Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới không chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò chủ đạo, mà quan trọng hơn là định nghĩa lại cách thức thực hiện vai trò này theo hướng “kiến tạo – dẫn dắt – lan tỏa”. Tuy nhiên, để chuyển hóa tư duy thành năng lực thực chất, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phải vượt qua những mâu thuẫn nội tại kéo dài nhiều năm.
E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

E100 Dung Quất trở lại: Mảnh ghép then chốt cho lộ trình xăng E10

(CLO) Trong bối cảnh nhu cầu xăng dầu gia tăng và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất đã hoạt động trở lại với một vai trò mới; nguồn cung E100 ổn định, tạo lợi thế đặc biệt trong pha chế xăng sinh học. Sự phục hồi của nhà máy không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho chuỗi nhiên liệu sinh học trong nước.
Cần Giờ đẹp mê hoặc trong ngày tranh tài VnExpress Marathon Green Paradise 2026

Cần Giờ đẹp mê hoặc trong ngày tranh tài VnExpress Marathon Green Paradise 2026

(CLO) Không chỉ chinh phục một trong những cung đường đẹp bậc nhất hệ thống VnExpress Marathon, hơn 5.000 runner và hàng ngàn du khách tới Cần Giờ dịp lễ này còn trực tiếp cảm nhận một siêu đô thị đang hiện hình với tốc độ hiếm thấy. Từ rừng Sác xanh ngút ngàn, gió biển khoáng đạt đến đại công trường rực sáng xuyên đêm, Vinhomes Green Paradise đang cho thấy một diện mạo chưa từng có khiến nhiều người không khỏi bất ngờ.
BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

BSR quý I/2026 tăng trưởng mạnh, tổng doanh thu đạt 46.462 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng

(CLO) Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (mã chứng khoán: BSR) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026 với kết quả sản xuất kinh doanh tăng trưởng rất ấn tượng. Theo đó, tổng doanh thu hợp nhất đạt 46.462 tỷ đồng, và lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng - mức cao nhất so với cùng kỳ và vượt xa kỳ vọng của thị trường.
Cỡ chữ bài viết: