Người lao động bỏ phố về quê: Bài toán khó với doanh nghiệp

(NB&CL) Theo Tiến sĩ Phan Tân - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Chính phủ phải tính toán đến phương án phân bố lại các khu/cụm công nghiệp đều khắp các tỉnh/thành tùy vào lợi thế vùng miền với từng loại hình sản xuất hàng hóa để giải bài toán lao động bỏ về quê hiện nay.

Bất chấp mưa bão, đường xa hàng nghìn km, hàng nghìn người di cư bằng xe máy, đi bộ về quê trong nhiều ngày mặc cho chính quyền ở các thành phố kêu gọi, vận động họ ở lại đã trở thành hiện tượng xã hội đặc biệt trong thời gian qua. Để có góc nhìn và phân tích thấu đáo về hiện tượng này, phóng viên Báo Nhà báo & Công luận đã có trao đổi với Tiến sĩ Phan Tân - hiện công tác tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Vấn đề an cư với người lao động đang bộc lộ nhiều bất cập

+ Thời gian qua, di biến động dân cư, người lao động tiếp tục rời thành phố về quê, theo ông đâu là nguyên nhân?

- Khoảng tháng 7/2021, chúng ta đã chứng kiến một đợt “hồi hương” (nhiều người còn dùng từ “tháo chạy”) của người lao động từ Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh... về các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam Bộ, và đúng 02 tháng sau, chúng ta tiếp tục chứng kiến đợt “hồi hương” lớn thứ hai; trong đó có một lượng lớn những bà con người dân tộc thiểu số các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn...

Họ ra về với bất kỳ phương tiện nào có thể di chuyển được như: ô tô, xe máy, xe đạp, xe tự chế và thậm chí là… đi bộ. Đặc biệt, trong dòng người về quê có những câu chuyện không thể không làm cho chúng ta chỉ im lặng ngồi quan sát. Có thể kể ra các trường hợp: con mấy ngày tuổi cũng đưa lên xe vượt hàng ngàn cây số về quê; phụ nữ bụng mang dạ chửa sắp sinh cũng về; nhiều người biết trên đường đi không an toàn và có thể không về đến quê cũng liều ra về.

nguoi lao dong bo pho ve que bai toan kho voi doanh nghiep hinh 1

Người lao động về quê trở thành hiện tượng xã hội đặc biệt sau thời gian dài chống dịch.

Theo tổng hợp của Tổng cục Thống kê, trong thời gian từ tháng 7 đến 15/9 đã có khoảng 1,3 triệu lao động về quê tránh dịch, cộng thêm đợt nới lỏng giãn cách này con số sẽ là khá lớn. Hiện tượng về quê bằng mọi giá như thế này, theo tôi có nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó là những lao động không có tích lũy. Lương/thu nhập của họ chỉ vừa đủ để sống nếu không có tình huống rủi ro. Cho nên mới chỉ dừng thu nhập trong 3-4 tháng mà họ đã khánh kiệt. Không có tích lũy nên cái đói đã dồn họ vào bước đường cùng, trong khi cứu trợ của Nhà nước hay mạnh thường quân thì có hạn.

Người dân không thể sống lâu dài bằng việc trông chờ vào nguồn cứu trợ “nhỏ giọt”, ở lại thì lấy gì để tồn tại. Bằng chứng cho sự “khánh kiệt”, không có tích lũy là việc nhiều người phải nhịn ăn ở khu cách ly bởi không có tiền trả phí; hay như trường hợp phụ nữ mang thai đe dọa đẻ non trên đường mà không dám ở lâu trong bệnh viện vì không biết lấy đâu tiền trả. Thậm chí có cặp vợ chồng trẻ quê Nghệ An, chồng phải tự đỡ đẻ cho vợ tại nhà trọ vì không có tiền đi bệnh viện, sau đó con được 15 ngày tuổi cũng phải dắt díu nhau về quê.

Người lao động chọn về quê vì không có gì đảm bảo cuộc sống của họ ổn định lâu dài ở đô thị (họ không có các loại bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp...). Khi mà không có cái gì bảo đảm cuộc sống thì sẽ không có cái gì để níu kéo chân họ ở lại. Điều này cho thấy sự tạm bợ trong công việc của các lao động này thời gian qua. Chính vì những người lao động không có tích lũy nên không lấy đâu ra tiền để mua nhà, lo cho con cái học hành, hay bảo đảm an sinh tuổi già... Không có “an cư” để “lạc nghiệp”, không có tương lai cho con cái thì đương nhiên họ phải lựa chọn về quê.

Chúng ta có thể đặt câu hỏi, nếu không làm ăn được tại sao trước đây họ không về? Tôi cho rằng mỗi người khi bước chân ra đi tha hương để mưu sinh thì ai cũng đều mong muốn “đổi đời”. Nếu về quê khi chưa “đổi đời” hay vì sự “yếu kém” nào đó thì khó tìm được sự thông cảm từ gia đình, họ hàng - những người vốn luôn kỳ vọng vào họ. Nên dù không có thu nhập nhiều, họ cũng “cố sống cố chết” bám trụ ở lại. Nay dịch giã nên cùng đường phải họ trở về.

Một trong những lý do mà người lao động trở về quê đông chính là việc nghi ngờ đại dịch đã hết hay chưa, còn bùng phát nữa hay không. Điều này không ai có câu trả lời chắc chắn, trong khi ranh giới giữa sự sống và cái chết mà họ đã chứng kiến thật mong manh.

Ngoài ra, theo tôi, nhận thức về công ăn, việc làm và an sinh, an toàn của người lao động chắc chắn sẽ đổi khác sau đại dịch. Vậy nên, khi mà nơi tưởng chừng là “miền đất hứa” đã không cho họ một cơ hội tồn tại lâu dài, bảo đảm, thì khi được tạm nới lỏng giãn cách và việc mưu sinh tiếp theo chưa biết thế nào thì con đường về với quê - nơi còn có chút ruộng đồng để sinh nhai - là lựa chọn tối ưu nhất của họ.

Cần giải pháp căn cơ, gốc rễ

+ Ông có cho rằng việc người lao động về quê trong khi các nhà máy, xí nghiệp đang bắt đầu hoạt động trở lại sẽ tác động đến việc khôi phục sản xuất sau thời kỳ giãn cách xã hội không?

- Đây là một thực trạng mà chúng ta đang đối diện. Nhà máy, xí nghiệp không thể không hoạt động trở lại và muốn hoạt động phải đủ nhân lực nhưng một bộ phận lớn người lao động đã về quê. Mà để họ quay trở lại còn là cả vấn đề. Những người về là những người đã có thời gian làm việc mà không có tích lũy. Họ đến bằng “tay trắng” và đã ra về cũng bằng “tay trắng”.

Và nếu họ có quay trở lại làm việc chắc cũng còn phải một thời gian không ngắn nữa bởi những cái hấp dẫn họ đã không còn nhiều. Nhiều khả năng họ sẽ trở về tăng gia sản xuất trên mảnh ruộng quê hoặc tìm việc ở các doanh nghiệp hoặc làm gì đó ở chính địa phương của họ là chính. Tôi cho rằng số quay trở lại nơi họ bỏ chạy không nhiều. Bài toán thu nhập thấp nhưng được gần gia đình và an toàn dễ được họ lựa chọn nhiều hơn là “thu nhập cao” nhưng phải xa gia đình và thiếu an toàn!

Cho nên, nguy cơ thiếu hụt lao động đối với các nhà máy, xí nghiệp trong thời gian trước mắt là hiện hữu và không dễ bù đắp trong ngày một ngày hai.

+ Theo ông, để giải quyết bài toán thiếu hụt lao động sản xuất, sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới, cần thiết phải làm như thế nào?

- Theo tôi, với bài toán cụ thể thì lúc này hơn lúc nào hết, các nhà máy, xí nghiệp phải có tính toán lại nguồn lực sản xuất, đặc biệt là tính toán lại xem việc phân phối lợi tức thời gian trước đây đã hợp lý chưa. Phần trả cho người lao động lâu nay đã xứng đáng chưa để có những điều chỉnh hợp lý, phải cho người lao động thấy được phần thu nhập họ có thể tích lũy, dự phòng rủi ro.

Người lao động phải thấy được các loại bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp... được bảo đảm một cách thực tế. Đặc biệt, người lao động phải có được tình huống “an cư” bền vững, mà ở đây là việc xây dựng các ký túc xá, các khu nhà ở công nhân giá rẻ... Với những bảo đảm này không khó để thu hút lao động ngoại tỉnh trở lại làm việc thời gian tới.

Bài toán chiến lược mà Chính phủ phải tính toán đến là phương án phân bố lại các khu/cụm công nghiệp đều khắp các tỉnh/thành tùy vào lợi thế vùng miền với từng loại hình sản xuất hàng hóa để người lao động có cơ hội làm việc trên quê hương mình theo đúng chủ trương “ly nông bất ly hương”. Đây mới là bài toán phát triển bền vững.

+ Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP về Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”,  theo đó bãi bỏ việc thực hiện Chỉ thị 15, 16 ở các địa phương. Theo ông, các địa phương cần phải làm gì để bắt kịp chủ trương mới?

- Hiện nay, chúng ta đã nói nhiều đến trạng thái “sống chung với dịch”, vậy nên cần phải hành xử theo đúng kiểu “sống chung với dịch”. Tuy nhiên, một số địa phương vẫn còn sợ hãi với những trường hợp nhiễm bệnh một cách thái quá dẫn đến có những hành động cực đoan với người về từ vùng dịch.

Bên cạnh đó, hiện tượng cát cứ, hay mỗi nơi một chính sách trong việc đón dân về quê, lưu thông hàng hóa, mở cửa sản xuất... đang diễn ra ở một số địa phương. Do vậy, giữa các địa phương cần có sự liên thông, thống nhất, tránh mỗi nơi làm một kiểu và cần có sự bình đẳng đối xử giữa các địa phương với người về quê. Điều này cũng tránh được những phê phán không đáng có.

Trinh Phúc (Thực hiện)

Xem thêm

Hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Ảnh: DNSE

Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể mãi dựa vào vốn ngân hàng

(CLO) Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong những năm tới, kéo theo nhu cầu vốn đầu tư lên tới hàng chục triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, khi tín dụng đã tương đương khoảng 146% GDP và nhu cầu vốn trung, dài hạn ngày càng lớn, các chuyên gia cảnh báo việc phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống ngân hàng sẽ khiến nền kinh tế đối mặt với nhiều rủi ro.

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

Ngưỡng 20.000 tỷ đồng quá cao, VCCI đề nghị mở rộng cơ chế cho dự án BT

(CLO) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý đối với dự thảo Nghị định sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật PPP, trong đó đề xuất điều chỉnh một số quy định tại Nghị định 257/2025/NĐ-CP nhằm tăng tính khả thi trong triển khai các dự án hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

Lào Cai phê duyệt dự án hầm Hàm Rồng 2.500 tỉ đồng

(CLO) UBND tỉnh Lào Cai vừa phê duyệt chủ trương đầu tư dự án hầm đường bộ Hàm Rồng với tổng mức đầu tư 2.500 tỉ đồng. Công trình được kỳ vọng tạo thêm trục kết nối giữa Quốc lộ 4D và tỉnh lộ 152, góp phần giảm áp lực giao thông, mở rộng không gian phát triển đô thị và du lịch tại Sa Pa.

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

Kiểm tra thuế điện tử: Người nộp thuế được giảm phiền hà, hạn chế sách nhiễu

(CLO) Việc kiểm tra thuế bằng phương thức điện tử giúp người nộp thuế có thể cung cấp hồ sơ, giải trình và làm việc với cơ quan thuế hoàn toàn trên môi trường số, không cần tiếp xúc trực tiếp trong phần lớn các trường hợp. Quy trình này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, hạn chế phát sinh phiền hà, sách nhiễu trong quá trình kiểm tra thuế.

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

Muốn tăng trưởng bứt phá, Việt Nam cần một thị trường chứng khoán đủ sâu và đủ mạnh

(CLO) Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, một nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh, đồng thời việc nâng hạng thị trường không phải là đích đến mà là động lực để thúc đẩy cải cách toàn diện thị trường vốn.

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

Doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ ra "chìa khóa" để Việt Nam thu hút FDI chất lượng cao

(NB&CL) Các “ông lớn” đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc đều đánh giá cao môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tiếp tục củng cố niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế vào triển vọng phát triển của Việt Nam.

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

AI 'Make in Vietnam': Kỳ vọng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ mới của Việt Nam

(CLO) AI không còn là công nghệ của tương lai mà đã trở thành công cụ hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống. Trong bối cảnh cuộc đua AI toàn cầu diễn ra ngày càng quyết liệt, Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào thế hệ nhà sáng tạo trẻ có thể tạo ra những sản phẩm AI Make in Vietnam và những doanh nghiệp công nghệ mới trong tương lai.

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

Vì sao các nước vùng Vịnh rót hàng trăm tỷ USD vào châu Phi?

(CLO) Hơn 100 tỷ USD đã được các nước vùng Vịnh rót vào châu Phi trong một thập kỷ qua, biến lục địa này thành một trong những điểm đến đầu tư chiến lược của Trung Đông. Đằng sau làn sóng vốn khổng lồ là mục tiêu đa dạng hóa nền kinh tế, đảm bảo nguồn cung nguyên liệu và mở rộng ảnh hưởng địa chính trị.

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

Vietnam AI Innovation Challenge 2026: Bệ phóng nhân lực AI chất lượng cao cho nền kinh tế số

(CLO) Ngày 17/7, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) phối hợp cùng Meta, AI for Vietnam và các đối tác tổ chức Lễ phát động Chương trình Thách thức Đổi mới sáng tạo Việt Nam (Vietnam Innovation Challenge - VIC) 2026 và công bố kế hoạch đăng cai Cuộc thi Olympic Trí tuệ nhân tạo Quốc tế (International Artificial Intelligence Olympiad - IAIO) 2027.

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi

(CLO) Các đặc khu kinh tế được kỳ vọng trở thành những cực tăng trưởng mới của Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng khốc liệt, chỉ riêng các chính sách ưu đãi là chưa đủ để thu hút những "đại bàng" công nghệ và dòng vốn chất lượng cao.

 Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

Kinh tế tăng tốc, những mất cân đối nào đang tích tụ?

(CLO) 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong hơn hai thập niên. Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới: Chính khi các chỉ số vĩ mô đang thuận lợi nhất này cần nhìn thẳng vào những vấn đề cơ cấu đang tích tụ phía sau bức tranh tăng trưởng để nhận diện đúng các thách thức và chuẩn bị dư địa cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

Tăng trưởng 2 con số cần phương thức điều hành mới

(CLO) Kiên định với mục tiêu đưa nền kinh tế bước vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030, Lãnh đạo Đảng và Chính phủ đã có chỉ đạo mạnh mẽ về yêu cầu đổi mới toàn diện tư duy điều hành, nâng cao năng lực thực thi và tháo gỡ mọi rào cản nguồn lực. Trả lời phỏng vấn báo Nhà báo và Công luận, GS. Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân đã phân tích về những điều kiện then chốt, những "nút thắt" cần tháo gỡ để biến quyết tâm chính trị thành động lực phát triển thực chất và bền vững

Cỡ chữ bài viết: