“Tàn nhưng không phế”
Dù đã bước sang tuổi 84, đôi mắt bị mù nhưng thương binh Nguyễn Đăng Khoa, trú xã Đại Huệ (Nghệ An) vẫn khiến nhiều người nể phục bởi trí tuệ minh mẫn. Không chỉ đàn hay, làm thơ giỏi, từng có thời gian dài thương binh 1/4 là thầy giáo dạy học cho nhiều trẻ em trong làng. Những năm gần đây, theo nguyện vọng của con cháu, ông đành gác lại việc dạy học. Dù vậy, ký ức về những năm tháng được đứng trên bục giảng đặc biệt vẫn in sâu trong tâm trí ông.
Khi sinh ra chàng thiếu niên Nguyễn Đăng Khoa cũng khỏe mạnh như bao bạn bè đồng trang lứa. Giỏi môn toán và luôn ấp ủ ước mơ trở thành giáo viên, nhưng khi đất nước cần, chàng trai trẻ đã sẵn sàng gác lại lý tưởng riêng của mình, vác ba lô lên đường nhập ngũ.
Năm 1964, khi mới 22 tuổi, Nguyễn Đăng Khoa nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, Khoa được bổ sung vào Đoàn 559 làm nhiệm vụ mở đường và vận chuyển hàng chi viện cho chiến trường miền Nam.
Tháng 9/1967, trong lúc đơn vị đang làm cầu trên tuyến vận tải ở Tây Nguyên, máy bay địch bất ngờ trút bom. “Tôi chỉ kịp nghe một tiếng nổ rất lớn rồi không biết gì nữa”, người thương binh nhớ lại.
Khi tỉnh dậy trong quân y viện, xung quanh ông chỉ là bóng tối. Lúc này, ông mới nhận thức được sự tàn phá của chiến tranh. Trận bom năm ấy đã cướp đi đôi mắt của người lính trẻ.
Ngày trở về quê hương, người lính ấy mang trên mình thương tật cùng nỗi mặc cảm của một người mù. Nhưng chính trong thời gian khó khăn ấy, anh đã tìm được ánh sáng của đời mình. Cô gái Trần Thị Sâm (lúc đó là Phó bí thư đoàn xã Nam Lĩnh) từ cảm mến đã đem lòng yêu anh lính mù. Sau đó, họ nên duyên vợ chồng. Cho đến hôm nay, mỗi khi nhắc đến người vợ tần tảo, ông Khoa không khỏi xúc động: “Vợ là đôi mắt của tôi, giúp tôi đi được chặng đường dài như hôm nay”.
Dù đã có tổ ấm riêng nhưng ông Khoa không an phận. Với suy nghĩ phải học hỏi, làm việc gì đó cho gia đình, quê hương nên vào năm 1973, ông xin địa phương một chiếc radio để nghe thời sự, học hỏi kiến thức mới. Ban ngày ông nghe đài, ghi nhớ từng thông tin. Ban đêm, ông kiên trì học chữ nổi Braille với suy nghĩ phải học để tiếp nhận tri thức, để không bị lạc hậu.
Nhờ nghị lực, sự ham học hỏi mà từ người thương binh sống trong bóng tối, ông trở thành tuyên truyền viên của địa phương. Ông biên tập tin bài phát trên hệ thống loa truyền thanh, đưa thông tin về sản xuất, đời sống và thời sự đến với bà con trong xã. Những việc làm của một người thương binh mù như ông khiến nhiều người cảm phục.
Mang ánh sáng tri thức đến cho đời
Sau 36 năm mất đi đôi mắt vì bom đạn, tưởng chừng giấc mơ làm thầy giáo khép lại thì bỗng một ngày ước mơ đó lại đến với ông Khoa theo cách không ai ngờ. Đó là một buổi chiều vào năm 2003, ông Khoa sang nhà hàng xóm uống nước chè thì nghe hai đứa trẻ loay hoay với bài toán hình học. Lúc đó, ông nhặt một hòn than, vẽ hình xuống sân rồi hướng dẫn các cháu. Lời giải chính xác của người thương binh mù khiến hai đứa trẻ bất ngờ. Từ đó, học sinh trong làng bắt đầu tìm đến nhờ ông giảng bài.
Ban đầu chỉ một nhóm nhỏ rồi ngày càng đông hơn. Ông Khoa không cảm thấy phiền vì điều đó mà nhận ra hạnh phúc khi được truyền đạt kiến thức cho các cháu trong làng. Từ đó, ông quyết định mở lớp học miễn phí ngay tại nhà. Lớp học đầu tiên ước chừng hơn chục học sinh. Những năm sau, cứ đến dịp hè là ông lại mở hớp học và kết thúc khi các em bước vào năm học mới.
Thời điểm đó, chiều nào căn nhà nhỏ của ông cũng rộn rã tiếng học trò. Không nhìn thấy bảng, ông chọn những học sinh khá làm “trợ giảng”, đọc đề, vẽ hình và ghi công thức. Còn ông, bằng trí nhớ và khả năng tư duy, vẫn lần lượt dẫn dắt học trò tìm ra lời giải cho những bài toán hóc búa.
Với sự nhiệt huyết, người thương binh ấy đã mở 11 lớp học miễn phí, giúp hàng trăm học sinh, chủ yếu là học sinh cấp 2 củng cố kiến thức. Nhờ sự hướng dẫn của ông mà nhiều học sinh đã nắm chắc kiến thức, sau đó đỗ đạt cao.
Không chỉ dạy Toán, ông còn kể cho học trò nghe về lịch sử quê hương Nam Đàn. Truyền đạt cho các em tình yêu quê hương, đất nước và biết ơn những người đã ngã xuống vì nền hòa bình dân tộc. Ông tâm niệm, học kiến thức quan trọng nhưng bên cạnh đó các em nhỏ cần được bồi đắp thêm về đạo đức, về truyền thống cách mạng.
Với sự hy sinh, giúp đỡ học sinh vô điều kiện, tháng 9/2007, ông Nguyễn Đăng Khoa vinh dự được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Bộ Giáo dục và Đào tạo trao tặng Thẻ Nhà giáo. Ông vẫn còn nhớ như in cảm xúc vào ngày nhận danh hiệu ấy. “Hôm đó, tôi đã khóc vì hạnh phúc. Tôi từng nghĩ chiến tranh đã cướp mất giấc mơ làm thầy, nhưng không ngờ đến khi tuổi già, tóc bạc, tôi được gọi là thầy giáo”, ông Khoa xúc động.
Ngoài bục giảng đặc biệt ấy, ông còn là “nghệ sĩ” quen thuộc của quê hương. Với niềm đam mê và sự ham học hỏi, ông thành thạo các loại đàn mandolin, harmonica và nhiều nhạc cụ khác. Nhiều năm qua, ông đã đem năng khiếu của mình để phục vụ văn nghệ tại địa phương, được khán giả tán thưởng.
Ông Khoa là người hơn ba thập kỷ gắn bó với Liên hoan Tiếng hát Làng Sen. Người thương binh này luôn coi việc được hát về Bác Hồ là niềm hạnh phúc lớn của cuộc đời. Ông chia sẻ, mình là người con quê Bác, là người lính, lại được đàn và hát những bài ca dâng Người là niềm hạnh phúc lớn.
Đi qua những gian khó của cuộc đời, vượt lên số phận, thương binh Nguyễn Đăng Khoa đã làm được nhiều việc khiến mọi người cảm phục. Nhưng điều ông luôn tự hào đã bản thân đã vượt qua những nghịch cảnh của cuộc đời để sống có ý nghĩa. Ánh sáng mà ông mang đến hôm nay không đến từ đôi mắt mà đến từ trí tuệ và trái tim luôn hết lòng vì làng quê, đất nước.
Bà Đình Thị Hiền, Trưởng phòng Văn hóa- Xã hội xã Đại Huệ cho biết: Bác Nguyễn Đăng Khoa là thương binh 1/4, dù có những hạn chế nhất định về sức khỏe nhưng luôn sống có trách nhiệm với cộng đồng. Nhiều năm trước bác mở lớp dạy học cho trẻ em trong làng. Những năm gần đây khi sức khỏe yếu đi, dù lớp học không còn duy trì nhưng bác luôn quan tâm đến địa phương. Bác luôn nắm bắt tình hình trong nhân dân để kịp thời phản ánh cho lãnh đạo xã. Bác Khoa là thương binh “tàn nhưng không phế”, luôn làm gương cho con cháu.