Phát triển điện khí tại Việt Nam: Thuận lợi, thách thức và giải pháp

Hướng đi này có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm cung cấp điện cho nền kinh tế và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam. Quá trình đó có cả những thuận lợi và khó khăn, đồng thời đòi hỏi những giải pháp đồng bộ, thống nhất và phù hợp...

Nhiều thuận lợi...

Tại diễn đàn “Tiềm năng phát triển thị trường điện khí tại Việt Nam" TS. Nguyễn Minh Phong chia sẻ phát triển nhiệt điện khí tại Việt Nam hiện có nhiều thuận lợi cơ bản.

Đầu tiên điện khí là nguồn điện ổn định duy nhất không bị ảnh hưởng bởi thời tiết so với thủy điện, điện gió, điện mặt trời.

phat trien dien khi tai viet nam thuan loi thach thuc va giai phap hinh 1

TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng phát triển điện khí LNG tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức.

Ưu điểm của loại hình điện khí LNG là đảm bảo cấp điện ổn định và giảm thiểu tác động tới môi trường. Nhiệt điện khí với khả năng chạy phủ đỉnh sẽ là nguồn công suất cần thiết để bổ trợ cho các nguồn điện tái tạo không ổn định. Điện khí LNG có khả năng đạt hơn 90% hệ số công suất khi cần thiết, không gặp phải tình trạng gián đoạn và phụ thuộc vào thiên nhiên như điện gió hay điện mặt trời.

Thứ hai điện khí có tính sẵn sàng cao, công suất lớn, với dải điều chỉnh rộng, thời gian đáp ứng nhanh, giảm thiểu phát thải khí nhà kính CO2, đặc biệt giảm thiểu khí gây ô nhiễm SOx, NOx so với các nhà máy điện chạy than và dầu.

Một thuận lợi quan trọng cho phát triển điện khí LNG ở Việt Nam là Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành đều rất quan tâm đến việc phát triển thị trường LNG. Đây là cơ sở để phát triển hành lang pháp lý thúc đẩy sự phát triển của loại nhiên liệu này tại Việt Nam. Chính phủ đang trong quá trình xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách để có thể đưa LNG vào Việt Nam.

Nghị Quyết số 55-NQ/TƯ của Bộ Chính trị ngày 11-2-2020 về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định nhiệm vụ phát triển công nghiệp khí “Ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhập khẩu và tiêu thụ khí hóa lỏng”; đồng thời “Chú trọng phát triển nhanh nhiệt điện khí sử dụng khí hóa lỏng, đưa điện khí dần trở thành nguồn cung cấp điện năng quan trọng, hỗ trợ cho điều tiết hệ thống”.

Thứ tư, Việt Nam có nguồn khí tự nhiên khá lớn và có đủ năng lực tài chính và làm chủ công nghệ điện khí.

Sản xuất và tiêu thụ LNG trên thế giới ngày càng tăng trong những năm gần đây; cụ thể, nhu cầu LNG trên thế giới tăng với nhịp độ bình quân 6,3%/năm, công suất LNG trên thế giới tăng từ 340 triệu tấn/năm (năm 2017) lên 453 triệu tấn/năm vào năm 2022.

Hiện nay, cả nước có 13 dự án điện LNG đã được Thủ tướng phê duyệt trong danh mục các dự án quan trọng, ưu tiên đầu tư của ngành điện tại Quyết định 500/QĐ-TTg. Theo đó, tới năm 2030 sẽ có 22.400 MW điện khí LNG, chiếm 14,9% tổng nguồn điện của cả nước với năng lực sản xuất 83 tỷ kWh. Đây sẽ là một trong các nguồn giúp bảo đảm cung cấp đủ, ổn định và an toàn hệ thống điện quốc gia.

Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) - thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam), là đơn vị có tiềm lực tài chính lớn mạnh, sở hữu hệ thống cơ sở hạ tầng khí hiện đại, duy nhất và lớn nhất Việt Nam, bao gồm: Hệ thống đường ống vận chuyển khí, phân phối, các nhà máy xử lý khí, kho chứa sản phẩm lỏng (LPG, Condensate...) và CNG, LNG; có gần 3000 cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm, năng động, sáng tạo quản lý vận hành hệ thống hạ tầng công nghiệp khí, cũng như đầu tư xây dựng các công trình khí và có nhiều kinh nghiệm, đi đầu trong lĩnh vực khí của quốc gia.

Để đáp ứng công suất quy hoạch nhiệt điện khí và LNG theo Quy hoạch VIII với nhu cầu đến năm 2030 cần khoảng 15 - 18 triệu tấn/năm (tương đương 19,5 - 23 tỷ m3), PV GAS đã bắt đầu đưa Kho cảng LNG Thị Vải tại khu vực Đông Nam bộ vào vận hành từ tháng 7/2023, với công suất giai đoạn 1 là 1 triệu tấn/năm và đang triển khai giai đoạn 2 nâng công suất lên 3 - 5 triệu tấn/năm vào năm 2026.

Ở khu vực Nam Trung bộ, PV GAS cùng với Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) đang triển khai dự án Kho cảng LNG Sơn Mỹ để đưa vào vận hành, khai thác từ năm 2026, với công suất giai đoạn 1 là 3,6 triệu tấn/năm và giai đoạn 2 nâng công suất lên 6 triệu tấn/năm.

Đối với khu vực Bắc bộ, PV GAS đang có kế hoạch đầu tư Kho cảng LNG phía Bắc với công suất giai đoạn 1 là 3 triệu tấn/năm và giai đoạn 2 là 6 triệu tấn/năm.

Như vậy có thể thấy, PV GAS đã và đang tiên phong trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho việc nhập khẩu và cung cấp LNG cho thị trường.

Để đạt được mục tiêu sản lượng LNG cấp cho các nhà máy điện vào năm 2030 như Quy hoạch điện VIII, PV GAS đang có kế hoạch đầu tư các kho LNG theo mô hình “Kho cảng LNG trung tâm cung cấp cho các trung tâm nhiệt điện vệ tinh”, để tận dụng tính tối ưu theo mô hình về chi phí cho tất cả các khâu (bao gồm mua nguồn LNG, đầu tư hạ tầng, phân phối và truyền tải) góp phần giảm giá thành sản xuất điện từ nguồn LNG nhập khẩu.

phat trien dien khi tai viet nam thuan loi thach thuc va giai phap hinh 2

... lắm thách thức

Theo chuyên gia, phát triển điện khí tại Việt Nam cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức.

Thách thức lớn nhất hiện nay của nhà máy điện khí LNG vẫn là giá thành cao hơn rất nhiều so với giá bán lẻ điện mà EVN bán ra cho nền kinh tế. Bộ Công Thương vẫn chưa ban hành khung giá phát điện cho các nhà máy điện khí LNG. Việc cam kết tổng sản lượng điện mua hàng năm từ phía EVN và bao tiêu sản lượng khí hàng năm chưa có cũng khiến nhà đầu tư lo hiệu quả của dự án.

Hơn nữa, việc cam kết sản lượng điện phát và tiêu thụ khí hàng năm sẽ là cơ sở để các ngân hàng xem xét cấp tín dụng cho dự án, cũng như dự án mua được nguồn LNG giá tốt thông qua hợp đồng mua LNG dài hạn để giá điện rẻ hơn. Như vậy, nếu không tháo gỡ được nút thắt lớn nhất là giá điện LNG thì các dự án điện khí được dự báo sẽ còn khó triển khai. Điều này có thể ảnh hưởng đến việc cung ứng điện trong tương lai.

Cũng theo TS Phong, thách thức với điện khí LNG cũng đến từ việc Việt Nam chưa có kinh nghiệm trong xây dựng, vận hành các dự án kho cảng LNG và chuỗi dự án điện khí sử dụng LNG. Việc nhập khẩu LNG phải theo các thông lệ quốc tế. Trong khi đó, khuôn khổ pháp lý hiện hành cho các dự án LNG ở Việt Nam vẫn chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Thậm chí, Việt Nam hiện chưa có bộ tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến địa điểm, thiết kế, xây dựng và vận hành các cơ sở hạ tầng phục vụ nhập khẩu khí LNG.

Hơn nữa, theo thông tin sơ bộ, để cung cấp khí LNG tái hóa cho 15 dự án nhà máy nhiệt điện LNG nằm phân bố rải rác trên cả nước, các chủ đầu tư dự kiến sẽ xây dựng các kho cảng LNG riêng biệt, gắn liền với các dự án điện. Việc này sẽ dẫn đến công tác đầu tư các kho cảng LNG bị rời rạc, tăng thêm chi phí hậu cần khí đến nhà máy điện, phân tán nguồn lực xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích tổng thể quốc gia và khả năng chậm tiến độ khi triển khai các dự án kho cảng LNG với số lượng lớn”, TS Nguyễn Minh Phong lo ngại.

Chuyên gia cũng chỉ ra rằng, rủi ro cho đầu tư điện khí khi thời gian chuyển đổi sang điện chạy băng hydro ngắn. Theo lộ trình Quy hoạch điện VIII, đến năm 2050, để đáp ứng mục tiêu trung hòa carbon như cam kết của Chính phủ tại COP26, các nhà máy nhiệt điện khí trong nước sẽ chuyển sử dụng LNG, hoặc bằng hydro. Đồng thời, các nhà máy điện LNG sẽ chuyển sang đốt kèm hydro, hoặc chạy hoàn toàn bằng hydro.

Trong trường hợp dự án khí trong nước/kho cảng LNG mới hoàn thành vào năm 2030, sẽ chỉ có khoảng 20 năm vận hành trước khi nhà máy điện chuyển sang đốt kèm/chạy hoàn toàn bằng hydro. Mặc dù, lộ trình chuyển đổi sang hydro còn phụ thuộc nhiều yếu tố như công nghệ, giá thành hydro, tuy nhiên, với vòng đời dự án ngắn (các dự án khí thường có vòng đời dự án tối thiểu 30 năm), việc nghiên cứu, đánh giá tính khả thi và ra quyết định phê duyệt, triển khai dự án sẽ rất khó khăn.

Những giải pháp căn cơ

Theo TS. Nguyễn Minh Phong để phát triển điện khí, Việt Nam cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý (nhất là các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn về kỹ thuật, thương mại, tài chính...) làm cơ sở để đầu tư xây dựng kho cảng LNG mới, hiện đại, theo tiêu chuẩn quốc tế, tại các vị trí chiến lược, đủ khả năng tiếp nhận tàu chở LNG có kích thước lớn; để vận hành hệ thống tồn trữ và phân phối LNG, khí tái hóa từ LNG tại các khu vực tiêu thụ; cũng như triển khai quyền được thuê và sử dụng hạ tầng bên thứ ba; để quản lý an toàn và bảo vệ môi trường trong sản xuất, vận chuyển, tồn trữ và sử dụng khí tái hóa từ LNG.

Đặc biệt, trước mắt cần đẩy nhanh nghiên cứu, đánh giá tính khả thi và triển khai nâng công suất/đầu tư mới các dự án kho cảng LNG để kịp thời đáp ứng nhu cầu nhiên liệu cho phát điện theo Quy hoạch; Phát triển, xây dựng, vận hành và khai thác hạ tầng kỹ thuật quốc gia về điện khí LNG theo mô hình các kho cảng LNG trung tâm (LNG Hub) để cấp nhiên liệu chung cho toàn bộ các nhà máy điện sử dụng LNG để tiết giảm chi phí cho tất cả các khâu (bao gồm mua nguồn LNG, đầu tư hạ tầng, phân phối và truyền tải) góp phần giảm giá thành sản xuất điện từ nguồn LNG nhập khẩu; đồng thời, giúp tận dụng tối ưu tài nguyên diện tích cảng biển, mặt nước cho các mục đích khai thác và phát triển kinh tế khác.

Đồng thời, cần xây dựng chính sách cho ngành công nghiệp LNG đồng bộ và xuyên suốt (bao gồm phát triển hạ tầng LNG theo mô hình Kho cảng trung tâm - LNG Hub), cơ chế chuyển ngang giá khí LNG tái hóa từ hợp đồng mua bán khí sang hợp đồng mua bán điện, phê duyệt cước phí qua kho và đường ống đưa LNG đến nhà máy điện, nguyên tắc phân bổ LNG nhập khẩu cùng với các nguồn khí nội địa cho các nhà máy điện.

Ngoài ra, cần đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí trong nước phục vụ sản xuất điện để giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu; Phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hóa thạch; Kịp thời cập nhật tiến bộ khoa học - công nghệ trên thế giới về các nguồn năng lượng mới (hydro, amoniac...) để sử dụng cho phát điện; Nghiên cứu ứng dụng công nghệ chuyển đổi nhiên liệu các nhà máy nhiệt điện chạy than, khí sang nhiên liệu sinh khối, amoniac, hydro...

Bên cạnh đó, chú ý cân nhắc lộ trình chuyển đổi nhiên liệu của các nhà máy điện từ khí trong nước và LNG sang hydro với tiến độ phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi và đủ thời gian thu hồi vốn cho đầu tư phát triển các dự án khí trong nước, cũng như các dự án LNG; Đồng thời, nghiên cứu triển khai các dự án sản xuất hydro xanh, amoniac xanh để cung cấp cho khách hàng nội địa và xuất khẩu phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng hướng đến tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.

Minh Tiến

Xem thêm

Công ty Thủy điện Quảng Trị nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị và xây dựng chiến lược ứng dụng AI

Công ty Thủy điện Quảng Trị nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị và xây dựng chiến lược ứng dụng AI

Ngày 16/9/2026, Công ty Thủy điện Quảng Trị (TĐQT) tổ chức khóa đào tạo “Chiến lược, Lãnh đạo và Quản trị AI” cho toàn thể cán bộ, công nhân viên. Chương trình góp phần nâng cao nhận thức, năng lực quản trị và khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo an toàn, có trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tân Á Đại Thành: Từ nền tảng 33 năm đến sự tiếp nối của thế hệ lãnh đạo thứ ba

Tân Á Đại Thành: Từ nền tảng 33 năm đến sự tiếp nối của thế hệ lãnh đạo thứ ba

Đứng thứ 39 PRIVATE 100 với 1.474 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước năm 2025, Tân Á Đại Thành ghi nhận thêm một dấu mốc sau 33 năm phát triển. Phía sau kết quả này là hành trình của một Tập đoàn doanh nghiệp gia đình đa ngành với sự đồng hành của nhiều thế hệ, trong đó thế hệ lãnh đạo thứ ba đang ngày càng tham gia sâu vào hoạt động quản trị, điều hành.

EVNNPC duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm cung ứng điện và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2026

EVNNPC duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm cung ứng điện và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm 2026

Tháng 8 và những ngày đầu tháng 9/2026, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trên địa bàn 17 tỉnh/thành phố miền Bắc. Đặc biệt, trong dịp Quốc khánh 2/9, EVNNPC bố trí gần 1.000 ca trực tại Tổng công ty và các đơn vị, chủ động chuẩn bị lực lượng, vật tư, thiết bị, phương tiện, sẵn sàng xử lý các tình huống phát sinh. Trước ảnh hưởng của bão số 4 (Narra) và mưa lớn sau bão, cán bộ, công nhân viên EVNNPC đã khẩn trương triển khai khắc phục sự cố, khôi phục cấp điện cho khách hàng tại Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng và Bắc Ninh, góp phần bảo đảm đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp.

Fed giữ nguyên lãi suất, giá vàng có thể bật tăng mạnh

Fed giữ nguyên lãi suất, giá vàng có thể bật tăng mạnh

(CLO) Giá vàng có thể chỉ phục hồi nhẹ nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản như dự kiến. Tuy nhiên, nếu Fed bất ngờ giữ nguyên lãi suất, kim loại quý có thể tăng mạnh và hướng tới mốc 5.000 USD/ounce trong những tháng tới.

Dòng tiền lớn quay lại dầu khí giữa khủng hoảng năng lượng

Dòng tiền lớn quay lại dầu khí giữa khủng hoảng năng lượng

(CLO) Các văn phòng quản lý tài sản gia đình (family office), quỹ đầu tư và những nhà kinh doanh hàng hóa lớn không chỉ đặt cược vào giá dầu mà đang trực tiếp thâu tóm các tài sản năng lượng, từ mỏ dầu khí đến đường ống và cơ sở xuất khẩu.

35.000 tỷ đồng tranh chấp xây dựng: Vì sao hợp đồng ngày càng trở thành 'điểm nóng'?

35.000 tỷ đồng tranh chấp xây dựng: Vì sao hợp đồng ngày càng trở thành 'điểm nóng'?

(CLO) Các tranh chấp xây dựng đang ngày càng mang tính kỹ thuật, liên quan đến nhiều chủ thể và có giá trị lớn. Với các dự án xuyên biên giới, khác biệt về pháp luật, hợp đồng, ngôn ngữ và cách thức quản trị càng làm rủi ro gia tăng, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính đến phương án phòng ngừa ngay từ khi ký kết.

Mỹ khơi thông eo biển Hormuz, vì sao giá dầu vẫn vượt 100 USD?

Mỹ khơi thông eo biển Hormuz, vì sao giá dầu vẫn vượt 100 USD?

(CLO) Mỹ cho biết hoạt động vận tải qua Hormuz đang dần được khôi phục, nhưng lưu lượng thực tế vẫn thấp hơn nhiều so với trước xung đột. Trong khi đó, các tuyến xuất khẩu thay thế của Ả Rập Xê Út cũng gặp sự cố, khiến thị trường tiếp tục lo ngại về nguồn cung và đẩy giá dầu vượt 100 USD/thùng.

Tắt 2G: Việt Nam đã giải quyết bài toán nhiều quốc gia khác đang đối mặt như thế nào?

Tắt 2G: Việt Nam đã giải quyết bài toán nhiều quốc gia khác đang đối mặt như thế nào?

Tắt 2G không phải bài toán mới, nhưng nhiều quốc gia vẫn loay hoay trong việc loại bỏ một công nghệ cũ mà không đẩy hàng triệu người dùng ra khỏi kết nối. Trong bối cảnh đó, quá trình chuyển đổi tại Việt Nam đang cho thấy những tín hiệu tích cực: công nghệ có thể được nâng cấp hiệu quả hơn khi bài toán thiết bị, vùng phủ và người dùng được giải quyết đồng thời.

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đánh giá tác động toàn diện là cơ sở quan trọng để Quốc hội xem xét mở rộng lệnh cấm đối với các sản phẩm thuốc lá

Đánh giá tác động toàn diện là cơ sở quan trọng để Quốc hội xem xét mở rộng lệnh cấm đối với các sản phẩm thuốc lá

Mặc dù thống nhất cao với mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hạn chế thanh thiếu niên tiếp cận thuốc lá, các đại biểu tham dự tọa đàm góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (sửa đổi) ngày 26/8 cho rằng đề xuất cấm các sản phẩm “thuốc lá khác” vẫn cần được đánh giá đầy đủ và khách quan.

Cỡ chữ bài viết: