“Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”
Cuối năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ II nổ ra, lan rộng khắp châu Âu, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến mau lẹ. Năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã phân tích sâu sắc cục diện chiến tranh, dự đoán “thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về phe dân chủ” và nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến rất gần. Tháng 6/1940, khi hay tin Pháp đầu hàng phát xít Đức, Người nhận định “là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 7 (11/1940) họp tại Ðình Bảng (Bắc Ninh), cũng nhận định về thời cơ của cách mạng Việt Nam: Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Ðảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: Lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Ðông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập.
Ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Giây phút thiêng liêng đó cũng là điểm mốc thời gian mở ra giai đoạn phát triển mới cho cách mạng Việt Nam.
Tháng 5/1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 tiếp tục nhận định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”
Giữa năm 1944, tình hình thế giới có những biến đổi nhanh chóng. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn quyết liệt. Quân đội Xô-viết phản công quân Ðức thắng lợi trên nhiều mặt trận. Ở mặt trận Thái Bình Dương, lực lượng Pháp hoạt động ráo riết, chờ quân Ðồng Minh đổ bộ vào các nước Ðông Dương sẽ nổi lên đánh Nhật, khôi phục lại quyền thống trị của chúng. Đảng và Bác Hồ nắm bắt nhanh thời cơ này bằng việc ngày 7/5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về "Sửa soạn khởi nghĩa" để đẩy mạnh phong trào cách mạng lên một bước mới.
Tháng 10/1944, khi chiến tranh thế giới lần thứ II bắt đầu đi đến hồi kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào toàn quốc phân tích tình hình thế giới có nhiều thuận lợi, Người nhận định: "Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh".
Tối 9/3/1945, Nhật nổ súng đảo chính Pháp, cũng đêm hôm đó Ban Thường vụ Trung ương họp phiên mở rộng, đưa ra nhận định: “Những cơ hội tốt đang giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi” và ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Để đẩy nhanh việc chuẩn bị khởi nghĩa, giữa tháng 4/1945, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định đặt nhiệm vụ quân sự lên hàng đầu, thống nhất sáp nhập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân.
Không bỏ lỡ khoảng thời gian chín muồi nhất để tiến hành tổng khởi nghĩa
Tháng 7/1945, chiến tranh thế giới lần thứ 2 đi đến hồi cuối, phát-xít Nhật bại trận mất tinh thần và giữa tháng 8/1945 đã đầu hàng Đồng Minh. Thời điểm này 16.000 quân Anh chưa vào miền Nam và 200.000 quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật; còn chính quyền tay sai thì như rắn mất đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm bắt rất rõ về khả năng đầu hàng của quân Nhật cũng như tinh thần cách mạng sôi sục của quần chúng nhân dân, vì thế Người cho rằng phải chớp thời cơ “nghìn năm có một” này. Người ra chỉ thị : ".. dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".
Đây cũng chính là thời điểm, Đảng, Bác Hồ hiểu rất rõ rằng khoảng thời gian hai mươi ngày, từ ngày 15/8/1945 (Nhật hoàng chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh) đến ngày 5/9/1945 (quân đồng minh kéo vào nước ta để giải giáp quân Nhật) là khoảng thời gian chín muồi nhất để tiến hành tổng khởi nghĩa. Người nhận định: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập”, và: "Cần phải tranh thủ từng giây, từng phút tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng, không thể để lỡ cơ hội”.
Nắm chắc thời cơ đó, Bác và Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội đại biểu quốc dân ở Tân Trào (ngày 13/8), chủ trương phát động toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào nước ta giải giáp quân đội Nhật. Tiếp đó, Đại hội quốc dân Tân Trào họp, tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh và bầu Ủy ban dân tộc giải phóng.
Cũng ngay sau đó, ngày 18/8/1945, Hồ Chí Minh viết thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước, trong đó khẳng định: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Cũng chính từ chủ trương “không thể để lỡ cơ hội”, một quyết định rất nhanh, rất nhạy bén nhưng cũng rất sáng suốt được Đảng và Bác Hồ đưa ra: Không câu nệ, tỉnh, huyện hay xã mà địa phương nào điều kiện chín muồi thì thực hiện tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước. Hưởng ứng Lệnh tổng khởi nghĩa của Đảng và lời kêu gọi của Bác, đồng bào trong cả nước đã đồng loạt đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền.
Trong những ngày đầu (từ ngày 14-18/8), tổng khởi nghĩa diễn chủ yếu ở các xã, huyện thuộc 19 tỉnh miền Bắc và miền Trung. Từ ngày 19- 26/8 là cao điểm của tổng khởi nghĩa, với 56/65 tỉnh, thành phố, đặc khu khởi nghĩa. Đặc biệt là thắng lợi ở Hà Nội (ngày 19/8), Huế (ngày 23/8) và Sài Gòn (ngày 25/8) đã đập tan sức kháng cự của quân Nhật và bọn tay sai, tác động mạnh mẽ tới các địa phương khác tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Đến ngày 28/8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước cơ bản kết thúc, trong đó Hà Tiên là địa phương khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi cuối cùng.
Như vậy, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, cuộc tổng khởi nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ phong kiến, chính quyền về tay nhân dân.
Khẳng định ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.