Việt Nam nên không phân biệt đối xử với tín dụng bất động sản
Kể từ giữa năm 2025 tới nay, lãi suất ngân hàng liên tục điều chỉnh tăng đã tạo áp lực rất lớn đối với thị trường bất động sản. Một trong số đó là tâm lý của nhà đầu tư thận trọng hơn, người mua nhà ở thực cũng cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định xuống tiền. Trong khi đó, các doanh nghiệp bất động sản phải đối mặt với áp lực lớn về chi phí vốn và dòng tiền.
Điều đáng chú ý là nền kinh tế Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới những mức tăng trưởng hai con số trong những năm tới.
Tại Hội thảo “Lãi suất và cơ hội đầu tư bất động sản trong chu kỳ tăng trưởng mới” do Báo Tiền phong tổ chức vào chiều 23/3, ông Nguyễn Ngọc Tiến, Phó Tổng biên tập Báo Tiền phong nhấn mạnh: Để đạt được mục tiêu này, một trong những điều kiện quan trọng là mặt bằng lãi suất cần được giữ ổn định và ở mức thấp phù hợp, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy đầu tư và khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế.
Đối với thị trường bất động sản, yếu tố lãi suất ổn định và thấp phù hợp càng có ý nghĩa đặc biệt. Khi chi phí vốn giảm và được duy trì ở mức ổn định, người dân sẽ tự tin hơn trong việc vay mua nhà ở thực; doanh nghiệp bất động sản cũng có điều kiện tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn để triển khai dự án.
“Điều này không chỉ giúp thị trường vượt qua những khó khăn trước mắt, mà còn tạo nền tảng cho một chu kỳ phát triển bền vững hơn trong trung và dài hạn”, ông nói.
Trong khi đó, TS Vũ Đình Ánh, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường - giá cả, Bộ Tài chính cho biết: Nhiều năm qua, bất động sản vẫn bị nhìn nhận như một “tài sản chết”, thậm chí bị đặt đối lập với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, theo ông, đây là cách hiểu sai lệch cần sớm thay đổi. Minh chứng là trong tiếng Anh, bất động sản là “real estate”, tài sản thực, phản ánh đúng bản chất là một cấu phần lớn của nền kinh tế. Không chỉ dừng ở xây dựng hay dịch vụ, lĩnh vực này cần được coi là một ngành sản xuất, kinh doanh đúng nghĩa.
Về đóng góp, số liệu thống kê lâu nay cho thấy bất động sản chỉ chiếm khoảng 10% nhưng con số này chưa phản ánh đúng thực tế khi thị trường đã xuất hiện nhiều đại dự án quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng. Tỷ trọng thực tế có thể lên tới 20-30%, kéo theo nhu cầu tăng tỷ lệ tín dụng dành cho lĩnh vực này lên khoảng 30% tổng dư nợ.
Vì vậy, ông Ánh cho rằng, về mặt chính sách, Việt Nam nên không phân biệt đối xử với tín dụng bất động sản. Trong bối cảnh lãi suất chịu áp lực từ lạm phát, tỷ giá và cạnh tranh vốn, rủi ro tăng lãi suất là hiện hữu.
Cần sự điều tiết linh hoạt từ Nhà nước để ổn định lãi suất
Ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia tài chính - ngân hàng đánh giá: Thực tế, lãi suất chỉ là một yếu tố trong tổng thể chi phí vốn của nền kinh tế và cần được nhìn nhận trong mối quan hệ với các kênh huy động vốn cũng như khả năng quản trị của hệ thống ngân hàng.
Trong thời gian qua, khi thị trường chứng khoán và các kênh đầu tư khác có những giai đoạn thuận lợi, doanh nghiệp có thêm cơ hội huy động vốn, qua đó giảm bớt áp lực phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Việc đa dạng hóa nguồn vốn trong nền kinh tế cũng góp phần giúp các ngân hàng cân đối chi phí đầu vào, từ đó có điều kiện duy trì mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý hơn.
Bên cạnh đó, dòng tiền từ khu vực dân cư vẫn là nguồn lực quan trọng, giúp hệ thống ngân hàng ổn định thanh khoản và chủ động hơn trong điều hành lãi suất. Khi các nguồn vốn được lưu thông tốt, ngân hàng sẽ có dư địa để kiểm soát chi phí, từ đó hỗ trợ duy trì mặt bằng lãi suất ổn định.
Đối với thị trường bất động sản, mặt bằng lãi suất có thể dần ổn định trở lại trong thời gian tới, dù vẫn cần sự điều tiết linh hoạt từ cơ quan quản lý, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước thông qua các công cụ chính sách tiền tệ.
Ở góc độ nhà đầu tư, cơ hội vẫn tồn tại, nhưng sẽ phân hóa theo từng phân khúc và khẩu vị rủi ro. Việc cố định lãi suất trong 2-3 năm, thậm chí 3-5 năm sẽ giúp giảm thiểu rủi ro biến động trong ngắn hạn. Cùng với đó là xây dựng kế hoạch tài chính dài hạn, có phương án dự phòng dòng tiền và cân đối nguồn vốn hợp lý.
“Trong quá trình vay, có thể chủ động tái cấu trúc khoản vay khi điều kiện thị trường thuận lợi hơn, dù có thể phát sinh một số chi phí như phí trả nợ trước hạn”, ông Huy nói.