TS. Vũ Tiến Lộc: 2022 là một năm “không bình thường”, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn có “quả ngọt”

Một năm “không bình thường”

Sau 2 năm ngụp lặn vì tác động của đại dịch COVID-19, nền kinh tế Việt Nam trong năm 2022 đã có sự vươn dậy mạnh mẽ. Hầu hết, các ngành nghề kinh tế đều có sự bứt phá vượt bậc, nhờ đó, GDP trong quý III/2022 ghi nhận mức tăng trưởng lên tới 13,67%. Đây được coi là mức tăng trưởng kỷ lục, trong vòng 1 thập kỷ vừa qua.

Nhờ vào sự tăng trưởng “thần tốc” trong quý III/2022, rất nhiều các tổ chức nghiên cứu kinh tế trong và ngoài nước, các chuyên gia đều đánh giá, mục tiêu tăng trưởng GDP 6% - 6,5% do Quốc hội, Chính phủ đề ra hồi đầu năm là hoàn toàn khả thi.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo & Công luận nhân dịp cuối năm 2022, TS. Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam nhận định: Kinh tế Việt Nam trong năm vừa qua đã bứt phá rất mạnh, chính là “quả ngọt” của các chính sách hỗ trợ linh hoạt của Chính phủ.

ts vu tien loc 2022 la mot nam khong binh thuong nhung kinh te viet nam van co qua ngot hinh 1

Ts. Vũ Tiến Lộc

TS. Vũ Tiến Lộc nhận xét: Mặc dù đã kiểm soát được đại dịch COVID-19 và mở cửa hoàn toàn kinh tế ngay từ đầu năm, thế nhưng, 2022 là một năm “không bình thường”.

Bởi, trong năm, thế giới đã có rất biến động rất lớn không thể lường trước, như xung đột vũ trang giữa Nga - Ukraine, thế giới đối mặt với “bão” lạm phát, nhu cầu tiêu dùng toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng, hoặc chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy. Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam.

“Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở rất lớn, nên mỗi khi thế giới có biến động tiêu cực, chúng ta đều phải gánh chịu hậu quả. Vì vậy, với sự tăng trưởng GDP trong năm 2022, có thể thấy rằng, các chính sách điều hành nền kinh tế của Chính phủ đưa ra là hợp lý. Nếu nhìn ra thế giới, rất hiếm có quốc gia nào đạt được thành công như Việt Nam”, ông Lộc nhấn mạnh.

Nói rõ hơn về vấn đề này, TS. Vũ Tiến Lộc phân tích: Vì 2022 là một năm “không bình thường”, nên Chính phủ đã phải nỗ lực rất lớn, gấp 2 - 3 lần so với mọi năm. Trong đó, Chính phủ đã thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chính.

Thứ nhất là các nhiệm vụ điều hành kinh tế. Đây là nhiệm vụ chính và cũng là trách nhiệm của Chính phủ.

Thứ hai, Chính phủ đã có nỗ lực trong việc thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trong quá khứ. Đơn cử như các dự án đã “đắp chiếu” nhiều năm, Chính phủ đã đưa ra hàng loạt giải pháp để làm “sống lại” các dự án này. Có thể nói, các dự án “đắp chiếu” gây ra một sự lãng phí khủng khiếp cho nền kinh tế, và đây cũng là nguồn tài sản quý giá của quốc gia. Vì vậy, việc các dự án này “sống lại” chính là nhân tố đóng góp vào sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam.

Ngoài ra, Chính phủ còn giải quyết một số vướng mắc liên quan tới thể chế, hệ thống pháp luật. Ví dụ như quyết liệt sửa đổi các Luật gây tranh cãi, nhất là Luật Đất đai đang được đốc thúc hoàn thiện.

Thứ ba, Chính phủ đã đối phó tương đối thành công với các vấn đề mới phát sinh, như tình hình dịch bệnh còn phức tạp, xuất hiện các chủng bệnh mới, hoặc căng thẳng địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu,...

“Tôi cho rằng, với 3 nhiệm vụ mà Chính phủ đã làm được trong năm 2022 chính là công thức thành công cho các năm sau. Dù vậy, có thể trong năm 2023, thế giới sẽ có những diễn biến mới phát sinh, Chính phủ cũng cần chủ động thay đổi linh hoạt, để phù hợp với giai đoạn mới”, ông Lộc nói.

Nhận diện thách thức trong năm 2023

Với tình hình thế giới ngày càng phức tạp như hiện nay và khó có thể chấm dứt trong một sớm, một chiều, TS. Vũ Tiến Lộc khẳng định: Những biến động từ thế giới vẫn sẽ là thách thức của kinh tế Việt Nam trong năm 2023, như xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, “bão” lạm phát,...

ts vu tien loc 2022 la mot nam khong binh thuong nhung kinh te viet nam van co qua ngot hinh 2

Ông Lộc phân tích: Trong bối cảnh chung của thế giới, dự báo của các tổ chức nghiên cứu kinh tế đưa ra đều kém lạc quan hơn, kinh tế toàn cầu trong năm 2023 có thể sẽ tiếp tục suy giảm. Tuy nhiên, chưa tới mức suy thoái.

Trong đó, lạm phát chính là thách thức lớn nhất. Để kiềm chế lạm phát, ngân hàng Trung ương của nhiều quốc gia phải tăng lãi suất, tăng giá trị của đồng tiền. Yếu tố này sẽ làm dòng vốn trở nên đắt đỏ hơn, và quá trình mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp FDI sẽ gặp trở ngại.

Dưới tác động của lạm phát đã làm suy giảm nhịp độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu. Điều này sẽ làm giảm lực cầu tiêu dùng ở nhiều quốc gia, trong đó có cả những quốc gia là đối tác thương mại chiến lược với Việt Nam.

TS. Vũ Tiến Lộc nhấn mạnh: Kinh tế Việt Nam phụ thuộc khá nhiều vào xuất khẩu. Trong trường hợp tổng cầu tiêu dùng của thế giới giảm, chắc chắn ngành xuất nhập khẩu sẽ chịu thiệt hại.

“Người dân tại quốc gia nhập khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam, như Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản đều đang có xu hướng hạn chế tiêu dùng. Khi nhu cầu giảm, các quốc gia này sẽ hạn chế nhập khẩu hàng hóa, như vậy sẽ làm “vỡ” kế hoạch xuất khẩu của chúng ta, tác động trực tiếp vào GDP, tác động vào năng lực sản xuất và ảnh hưởng tới việc làm của hàng trăm nghìn công nhân. Do đó, năm 2023, để duy trì tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu như những năm trước là nhiệm vụ rất khó”, TS. Vũ Tiến Lộc nêu.

Như vậy, 2 mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế Việt Nam là xuất nhập khẩu và FDI đều đang đứng trước rất nhiều thách thức trong năm 2023.

Bên cạnh các tác động từ bên ngoài, kinh tế Việt Nam còn phải đối mặt với chính nội tại. Đơn cử như các thủ tục hành chính còn phức tạp, cơ chế pháp luật còn nhiều chồng chéo, luật này xung đột với luật kia, xung đột với Nghị định, Thông tư,...

Đặc biệt, trong thời gian gần đây, nhiều lãnh đạo Bộ, ngành, địa phương có tâm lý sợ sai, nên quá trình phê duyệt, thẩm định dự án bị kéo dài. Việc làm này cũng cản trở tới quá trình bứt phá của nền kinh tế Việt Nam.

Trước những thách thức trên, TS. Vũ Tiến Lộc đưa ra 2 kịch bản về triển vọng tăng trưởng kinh tế trong năm 2023.

Trong trường hợp kinh tế thế giới vẫn có diễn biến như hiện nay, không có chiều hướng xấu thêm. Có thể trong năm 2023, kinh tế Việt Nam vẫn sẽ duy trì nhịp tăng trưởng như năm 2022, dao động trong khoảng 6% - 7%.

Nhưng nếu theo chiều hướng ngược lại, thế giới tiếp tục đối mặt với các thông tin tiêu cực dồn dập, có thể tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ dưới ngưỡng kỳ vọng.

“Tôi tin rằng, dù đối mặt với rất nhiều thách thức và khó khăn, thế nhưng, kinh tế Việt Nam vẫn sẽ giữ được nhịp tăng trưởng. Còn mức tăng trưởng như thế nào còn phụ thuộc vào chính chúng ta, vào cách điều hành của Chính phủ”, ông Lộc nói.

Gói hỗ trợ vẫn còn 80% dư địa

Trước những thách thức nêu trên, TS. Vũ Tiến Lộc cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang rất cần có thêm các gói hỗ trợ khác để phục hồi. Được biết, từ đầu năm 2022, Chính phủ đã ban hành rất nhiều các giải pháp hỗ trợ, trong đó có gói hỗ trợ “khổng lồ” lên tới 350.000 tỷ đồng tập trung vào 3 nhóm chính là tài khóa, tiền tệ và an sinh xã hội.

Tuy nhiên, gói hỗ trợ này được ban hành vào thời điểm thế giới chưa phức tạp như hiện nay. Do đó, khi thế giới nảy sinh ra các vấn đề mới, nhiều giải pháp hỗ trợ chưa thực sự đem lại hiệu quả cho cộng đồng doanh nghiệp.

Đơn cử như việc khuyến khích các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sau đại dịch. Nhưng, sau 2 lần điều chỉnh tăng lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước, việc các ngân hàng thương mại giảm lãi suất là điều gần như không thể. Như vậy, quá trình phục hồi kinh tế đang rơi vào thế khó.

Hoặc gói hỗ trợ lãi suất 2%, nhiều doanh nghiệp vẫn than khó tiếp cận được. Nhưng ngay cả khi được hỗ trợ, cũng chỉ là bù đắp được 1 phần nhỏ.

Theo TS. Vũ Tiến Lộc, các chính sách tiền tệ đang ở thế khó, nhưng các chính sách tài khóa đang có rất nhiều dư địa và phải cật lực sử dụng tốt giải pháp này, để tạo ra bàn đạp cho kinh tế tăng trưởng trong năm 2023.

“Theo báo cáo của Chính phủ, tính tới cuối tháng 10/2022, chúng ta mới sử dụng được khoảng 20% gói hỗ trợ và vẫn còn 80% còn lại. 80% này chính là dư địa cho chúng ta, nếu biết sử dụng có hiệu quả”, TS. Vũ Tiến Lộc nói.

Đặc biệt, để kinh tế Việt Nam phát triển bền vững và dài hạn, ông Lộc mong muốn Chính phủ phải có những nỗ lực vượt bậc trong việc cải cách cấu trúc, giải quyết những vấn đề tồn đọng.

Đồng thời, Chính phủ cần có giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, bằng cách chuyển đổi cơ cấu kinh tế, khuyến khích phát triển kinh tế xanh, kinh tế số và phải cực kỳ thận trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tránh các ngành nghề gây ô nhiễm môi trường, thâm hụt tài nguyên môi trường, lao động.

Việt Vũ

Xem thêm

IMF: Việt Nam sắp vượt Indonesia về GDP bình quân đầu người năm 2026

IMF: Việt Nam sắp vượt Indonesia về GDP bình quân đầu người năm 2026

(CLO) GDP bình quân đầu người của Việt Nam dự kiến đạt 5.259 USD trong năm 2026, vượt Indonesia và đưa nước này lên vị trí thứ năm trong ASEAN. Đà tăng trưởng được hỗ trợ bởi đầu tư công, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và xuất khẩu, dù triển vọng dài hạn vẫn phụ thuộc vào khả năng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực công nghệ.

Lạng Sơn lần đầu đạt kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 106 tỷ USD

Lạng Sơn lần đầu đạt kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 106 tỷ USD

(CLO) Từ đầu năm 2026 đến ngày 30/10, tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn đạt trên 106 tỷ USD, tăng hơn 38% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm hơn 11% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh vượt mốc 100 tỷ USD.

Luật Dầu khí 2026: Kỳ vọng 'đánh thức' những mỏ dầu cận biên

Luật Dầu khí 2026: Kỳ vọng 'đánh thức' những mỏ dầu cận biên

(CLO) Luật Dầu khí 2026 được kỳ vọng tạo cú hích cho ngành dầu khí thông qua việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đơn giản hóa thủ tục và bổ sung cơ chế ưu đãi đầu tư, đặc biệt đối với các mỏ dầu khí cận biên có điều kiện khai thác khó khăn, hiệu quả kinh tế thấp.

Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo giờ: Cần xây dựng cơ chế giá hợp lý để người dân thay đổi thói quen sử dụng điện

Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo giờ: Cần xây dựng cơ chế giá hợp lý để người dân thay đổi thói quen sử dụng điện

(NB&CL) Đề xuất tính giá điện sinh hoạt theo khung giờ cao điểm, thấp điểm được kỳ vọng giúp giảm áp lực cho hệ thống điện. Tuy nhiên, chuyên gia cảnh báo hóa đơn tiền điện có thể tăng nếu người dân không thể dịch chuyển nhu cầu sử dụng điện.

Bài toán vốn 1.500 tỷ USD và bước đi đầu tiên của Trung tâm tài chính Việt Nam

Bài toán vốn 1.500 tỷ USD và bước đi đầu tiên của Trung tâm tài chính Việt Nam

​(CLO) Trong tháng 11 tới, quy chế về thành lập và quản lý các quỹ đầu tư tại Trung tâm tài chính Việt Nam sẽ chính thức được ban hành, tương thích với mô hình của Singapore hay Dubai. Động thái này được kỳ vọng sẽ tạo ra "cú hích" để khơi thông dòng vốn toàn cầu, giải quyết bài toán khổng lồ về nhu cầu vốn đầu tư lên tới 1.500 tỷ USD của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030.

Sản xuất công nghiệp tăng hai con số, kỳ vọng nối dài đà khởi sắc

Sản xuất công nghiệp tăng hai con số, kỳ vọng nối dài đà khởi sắc

(CLO) Sản xuất công nghiệp tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế khi IIP 9 tháng năm 2026 tăng 12,3%, với 15 địa phương ghi nhận mức tăng trên 13%. Trong quý IV, dù còn đối mặt áp lực về đơn hàng, nguyên vật liệu và chi phí logistics, phần lớn doanh nghiệp vẫn kỳ vọng duy trì ổn định hoặc cải thiện hoạt động sản xuất, tạo động lực cho tăng trưởng những tháng cuối năm.

'Cỗ máy' tăng trưởng cần dòng vốn mới, không thể chỉ trông chờ tín dụng ngân hàng

'Cỗ máy' tăng trưởng cần dòng vốn mới, không thể chỉ trông chờ tín dụng ngân hàng

(CLO) Việt Nam cần huy động khoảng 280–300 tỷ USD mỗi năm để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030. Trong bối cảnh nguồn vốn vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng, phát triển thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư dài hạn được xem là hướng đi quan trọng để đa dạng hóa dòng vốn, giảm áp lực tín dụng và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.

Thế giới gánh nợ 365 nghìn tỷ USD, chi phí lãi vay ngày càng tăng

Thế giới gánh nợ 365 nghìn tỷ USD, chi phí lãi vay ngày càng tăng

(CLO) Nợ toàn cầu đã vượt 365 nghìn tỷ USD, trong khi chi phí vay vốn leo thang gây thêm sức ép lên ngân sách các chính phủ. Tại Pháp, lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm vượt 5% lần đầu tiên kể từ năm 2002, làm dấy lên lo ngại về khả năng kiểm soát nợ công trong bối cảnh bất ổn kinh tế và xã hội.

Vĩnh Long tập trung phát triển chiến lược trở thành trung tâm kinh tế biển và năng lượng tái tạo ĐBSCL

Vĩnh Long tập trung phát triển chiến lược trở thành trung tâm kinh tế biển và năng lượng tái tạo ĐBSCL

(CLO) Sau sáp nhập địa giới hành chính, Vĩnh Long mang vóc dáng chiến lược mới với 130km bờ biển và vị trí tâm điểm kết nối Đồng bằng sông Cửu Long. Để tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng và cơ cấu kinh tế, tỉnh đang tái định hình 3 phân vùng không gian, quyết tâm bứt phá thành trung tâm kinh tế biển và năng lượng tái tạo hàng đầu toàn vùng vào năm 2030.

Cỡ chữ bài viết: