Việt Nam phát triển bền vững theo hướng chuyển đổi xanh, đưa phát thải ròng bằng '0' vào năm 2050

Ngày 8/7/2024, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 611/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với mục tiêu đến đến năm 2050, môi trường Việt Nam có chất lượng tốt, bảo đảm môi trường sống trong lành cho Nhân dân; bảo tồn hiệu quả đa dạng sinh học và duy trì được cân bằng sinh thái; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; xã hội phát triển hài hoà với thiên nhiên, đất nước phát triển bền vững theo hướng chuyển đổi xanh dựa trên phát triển nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp nhằm hướng tới đưa phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050; bảo đảm an ninh môi trường gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

viet nam phat trien ben vung theo huong chuyen doi xanh dua phat thai rong bang 0 vao nam 2050 hinh 1

Việt Nam phát triển bền vững theo hướng chuyển đổi xanh, hướng tới đưa phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Ảnh minh họa

Về các mục tiêu cụ thể, đối với bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học: Định hướng bảo tồn giá trị tự nhiên và đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên nhằm phục hồi và duy trì các hệ sinh thái tự nhiên, ngăn chặn xu hướng suy giảm đa dạng sinh học trên cơ sở củng cố, mở rộng, thành lập mới và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn thiên nhiên, hành lang đa dạng sinh học, khu vực đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên quan trọng, vùng đất ngập nước quan trọng và cơ sở bảo tồn để lưu giữ, bảo tồn và phát triển nguồn gen đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm, mẫu giống cây trồng và vật nuôi.

Đến năm 2030, tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, nâng cao chất lượng đa dạng sinh học; nâng tổng diện tích hệ thống khu bảo tồn trên phạm vi toàn quốc dự kiến đạt khoảng 6,7 triệu ha.

Chỉ tiêu cụ thể đối với các đối tượng về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được xác định trong Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Đối với khu xử lý chất thải tập trung: Định hướng hình thành đồng bộ hệ thống khu xử lý chất thải tập trung cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh có quy mô công suất và công nghệ xử lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, xử lý được toàn bộ lượng chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại phát sinh trên phạm vi cả nước, hạn chế tối đa lượng chất thải rắn chôn lấp trực tiếp, thực hiện phân loại chất thải tại nguồn, thúc đẩy hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải. Đồng thời, xây dựng được cơ chế, chính sách thuận lợi để đẩy mạnh xã hội hóa và thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, nước ngoài vào hoạt động xử lý chất thải.

Chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030: Định hướng hình thành tối thiểu 02 khu xử lý chất thải tập trung cấp quốc gia; tối thiểu 07 khu xử lý chất thải tập trung cấp vùng tại các vùng kinh tế - xã hội trong kỳ quy hoạch; tối thiểu 01 khu xử lý chất thải tập trung cấp tỉnh tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Đối với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường: Định hướng thiết lập mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường cấp quốc gia, cấp tỉnh thống nhất và đồng bộ, hiện đại, có tính liên kết trên phạm vi cả nước để chủ động theo dõi hiện trạng và bước đầu xây dựng năng lực dự báo diễn biến chất lượng môi trường, cảnh báo ô nhiễm môi trường; bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời phục vụ công tác quản lý nhà nước về môi trường.

Cụ thể: Đối với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường quốc gia: định hướng thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường quốc gia tại các khu vực có tính chất liên vùng, liên tỉnh, xuyên biên giới, tập trung quan trắc tại các khu vực trọng yếu, khu vực có ý nghĩa quan trọng về bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường quốc gia phải có tính đồng bộ, liên kết với các hệ thống quan trắc môi trường cấp tỉnh.

Đối với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường cấp tỉnh: định hướng cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng môi trường tại địa phương, tập trung vào các khu vực có nguy cơ ô nhiễm do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, các khu vực chịu tác động của nhiều nguồn thải và các khu vực quan trọng về cảnh quan, sinh thái và môi trường trên địa bàn quản lý của các địa phương, hài hòa và có tính liên kết chặt chẽ với mạng lưới quan trắc và cảnh báo môi trường quốc gia để sử dụng hiệu quả nguồn dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường trên cả nước.

Quy hoạch đưa ra giải pháp về tổ chức và giám sát thực hiện quy hoạch gồm: 1. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng; 2. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; 3. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong bảo vệ môi trường; 4. Tăng cường thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường; 5. Tăng cường đầu tư tài chính; 6. Ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xây dựng hạ tầng kỹ thuật, mạng lưới quan trắc và cơ sở dữ liệu môi trường; 7. Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường.

Xem thêm

Ủy ban Kiểm tra Trung ương giám sát việc thực hiện Nghị quyết 57 tại Lào Cai

Ủy ban Kiểm tra Trung ương giám sát việc thực hiện Nghị quyết 57 tại Lào Cai

(CLO) Ngày 2/11, Đoàn giám sát số 140 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương do ông Phạm Thái Hà, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bộ tiêu chí đo lường hạnh phúc người dân của Hà Nội có gì đặc biệt?

Bộ tiêu chí đo lường hạnh phúc người dân của Hà Nội có gì đặc biệt?

(CLO) UBND TP Hà Nội vừa ban hành Bộ tiêu chí và Phương pháp khảo sát, đo lường Chỉ số hạnh phúc của người dân Thủ đô giai đoạn 2026–2030. Hà Nội thiết lập công cụ đo lường quy chuẩn nhằm chuyển trọng tâm quản trị từ việc đo đếm thành tích sang đo lường sự hài lòng và chất lượng sống thực tế của người dân.

Nghiên cứu khoa học nông nghiệp phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể

Nghiên cứu khoa học nông nghiệp phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể

(CLO) Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía nam, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu mọi nhiệm vụ phải hướng tới kết quả cụ thể, có địa chỉ ứng dụng, có khả năng nhân rộng và đóng góp thực chất vào phát triển ngành nông nghiệp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khẩn trương đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khẩn trương đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam

(CLO) Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khẩn trương rà soát và đề xuất nâng tầm chiến lược phát triển logistics Việt Nam; phải đặt chiến lược trong tổng thể các yêu cầu phát triển mới của đất nước, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đánh thức nguồn lực bản địa bằng công nghệ: Đòn bẩy đưa kinh tế vùng cao bứt phá trong kỷ nguyên mới

Đánh thức nguồn lực bản địa bằng công nghệ: Đòn bẩy đưa kinh tế vùng cao bứt phá trong kỷ nguyên mới

(CLO) Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sở hữu kho tàng tri thức bản địa vô giá, nguồn dược liệu quý và tinh hoa nghề thủ công lâu đời. Bước vào kỷ nguyên mới, sự đồng hành của khoa học, công nghệ (KHCN) và hạ tầng số được kỳ vọng trở thành cầu nối chiến lược: không chỉ dừng lại ở bảo tồn di sản mà còn chuẩn hóa, số hóa và thương mại hóa, biến tiềm năng văn hóa độc đáo thành nguồn lực kinh tế tự chủ, bền vững cho đồng bào.

Đưa Luật Căn cước và dịch vụ công trực tuyến về tận bản làng vùng cao Phú Thọ

Đưa Luật Căn cước và dịch vụ công trực tuyến về tận bản làng vùng cao Phú Thọ

(CLO) Để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số, lực lượng Công an cơ sở, Tổ công nghệ số cộng đồng cùng cán bộ Bộ phận Một cửa tại các xã miền núi tỉnh Phú Thọ đang bền bỉ bám bản, giúp đồng bào dân tộc thiểu số nắm vững Luật Căn cước, làm chủ ứng dụng VNeID và thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Cộng hưởng hạ tầng số và năng lực công nghệ: Động lực để kinh tế tập thể vùng cao bứt phá

Cộng hưởng hạ tầng số và năng lực công nghệ: Động lực để kinh tế tập thể vùng cao bứt phá

(CLO) Sự kết hợp giữa hạ tầng số hiện đại và năng lực làm chủ công nghệ đang tạo cú hích để kinh tế tập thể vùng cao bứt phá. Tháo gỡ “điểm nghẽn” kỹ thuật theo Hướng dẫn 3930/HD-BKHCN giúp các hợp tác xã nâng tầm nông sản bản địa, đưa đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững.

Từ củ dong riềng vùng cao đến sản phẩm OCOP 5 sao: Hành trình vươn xa của miến dong Tài Hoan

Từ củ dong riềng vùng cao đến sản phẩm OCOP 5 sao: Hành trình vươn xa của miến dong Tài Hoan

(CLO) Từ nghề làm miến dong truyền thống của đồng bào dân tộc Tày ở Côn Minh, tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Tài Hoan đã từng bước đổi mới quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu OCOP 5 sao và đưa sản phẩm sang thị trường quốc tế. Mô hình cho thấy khi tri thức bản địa được kết hợp với khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại, nông sản miền núi có thể trở thành hàng hóa có giá trị, tạo sinh kế cho người dân và mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững.

Tìm thấy, quy tập 879 hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng

Tìm thấy, quy tập 879 hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng

(CLO) Ngày 31/10, Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh cho biết, lực lượng tìm kiếm đã phát hiện, quy tập thêm 7 hài cốt liệt sĩ tại Khu B, Công viên Lê Thị Riêng, nâng tổng số hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại địa điểm này từ ngày 23/6 đến hết ngày 31/10/2026 lên 879 bộ.

Cỡ chữ bài viết: