Áp lực tăng trưởng cho các quý tiếp theo
Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, trong quý I/2026, GDP Việt Nam tăng 7,83%. Đây là mức tăng trưởng tích cực, thậm chí thuộc nhóm cao nhất trong những năm gần đây. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trên hai con số theo Nghị quyết 01/NQ-CP (Nghị quyết 01) của Chính phủ, kết quả này vẫn chưa đạt kỳ vọng, qua đó tạo áp lực lớn lên các quý còn lại của năm.
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê cho biết: Để bù đắp phần thiếu hụt của quý I/2025 và hướng tới hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm theo Nghị quyết 01, nền kinh tế cần tăng tốc mạnh trong các quý còn lại, với mức tăng trưởng dự kiến duy trì trên 10,5%. Cụ thể, quý II ước tăng 10,5%, quý III khoảng 10,6% và quý IV khoảng 10,74%.
Kịch bản này được xây dựng dựa trên sự tăng tốc của xuất khẩu, phục hồi mạnh mẽ của sức mua nội địa, cùng với đóng góp ngày càng rõ nét của các lĩnh vực kinh tế mới như công nghệ bán dẫn và kinh tế xanh.
Theo bà Hạnh, để “về đích”, Việt Nam cần tháo gỡ triệt để các rào cản pháp lý, đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công và khơi thông hiệu quả dòng vốn đầu tư tư nhân.
Trong đó, đầu tư công tiếp tục được xem là “vốn mồi” dẫn dắt tăng trưởng dài hạn. Các dự án hạ tầng quy mô lớn như Sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc, cao tốc, vành đai hay các khu đô thị thể thao được kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh, vừa giảm chi phí logistics, vừa hút thêm dòng vốn FDI và đầu tư tư nhân vào các khu vực vệ tinh.
Bên cạnh đó, tiêu dùng nội địa cũng được đánh giá là động lực quan trọng trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động. Theo bà Hạnh, các chính sách cải cách tiền lương và chương trình kích cầu tại nhiều địa phương có thể giúp sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân phục hồi rõ rệt.
“Khi tiêu dùng tăng mạnh, các ngành dịch vụ, lưu trú, ăn uống, bán lẻ và thương mại điện tử sẽ có thêm dư địa phát triển, giúp duy trì vòng quay kinh tế nội địa ngay cả khi xuất khẩu gặp khó khăn”, bà Hạnh nhận định.
Về xuất nhập khẩu, bà Hạnh cho rằng, Việt Nam đang tận dụng mạnh mẽ lợi ích từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng, các ngành mũi nhọn như điện tử, linh kiện và dệt may xanh. Những ngành nghề này sẽ đóng vai trò “đầu kéo” ngoại tệ, giúp ổn định cán cân thanh toán và thúc đẩy sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng ổn định.
Đặc biệt, chính sách tài khóa linh hoạt song hành với chính sách tiền tệ sẽ là công cụ quản trị rủi ro hiệu quả. Trong đó, việc chủ động sử dụng các công cụ thuế xăng dầu và Quỹ bình ổn giá là “van an toàn” ngăn chặn lạm phát chi phí đẩy.
“Bằng cách kiềm chế đà tăng của giá năng lượng, Chính phủ trực tiếp hỗ trợ biên lợi nhuận cho doanh nghiệp vận tải và sản xuất, ngăn chặn tác động dây chuyền lên mặt bằng giá cả sinh hoạt, từ đó bảo vệ sức mua của người dân và sự ổn định vĩ mô”, bà Hạnh đánh giá.
Theo TS. Nguyễn Đức Độ, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính, thời gian qua, Chính phủ và các Bộ, ngành đã có giải pháp ứng phó nhanh chóng đối với những biến động từ thế giới. Đơn cử, gần đây, doanh nghiệp chịu tác động không nhỏ từ việc giá xăng dầu tăng cao.
“Chính phủ đã triển khai một số giải pháp như bình ổn giá xăng dầu nhằm giảm bớt “cú sốc” chi phí cho doanh nghiệp, giúp hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định hơn”, ông nói.
Bên cạnh đó, Chính phủ đã thực hiện một số biện pháp hỗ trợ như giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu. Đây là giải pháp có tác động tích cực tới môi trường kinh doanh và giúp doanh nghiệp giảm áp lực chi phí đầu vào.
Ngoài ra, việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng cũng là một động thái hỗ trợ đáng chú ý, dù có thể vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng kỳ vọng của người dân và doanh nghiệp.
Cần kết hợp giữa “nội lực” và “ngoại lực”
Bước sang tháng 4/2026, tháng đầu tiên của quý II, các chỉ số kinh tế của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, trong đó khu vực FDI và hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục là những điểm sáng nổi bật.
Báo cáo của Cục Thống kê cho thấy, vốn FDI đăng ký vào Việt Nam tính đến cuối tháng 4/2026 đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32%; vốn FDI trực tiếp đạt 7,4 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Tương tự, trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, không chỉ “tỏa sáng” ở khu vực FDI và thương mại quốc tế, thị trường nội địa trong 4 tháng đầu năm cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, vượt xa kỳ vọng và đang dần trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Theo báo cáo của Cục Thống kê, tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt khoảng 2,5 triệu tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 6,3%, cho thấy sức mua của người dân không chỉ tăng về giá trị danh nghĩa mà còn tăng thực chất về khối lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ.
Thực tế cho thấy, với quy mô hơn 100 triệu dân và đóng góp khoảng 62% vào tăng trưởng GDP hằng năm, thị trường nội địa không chỉ là dư địa phát triển lớn mà còn đang dần trở thành một động lực tăng trưởng mang tính chiến lược trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, tiêu dùng nội địa cần duy trì tốc độ tăng khoảng 12%/năm, cao hơn đáng kể so với mức bình quân khoảng 8% trong 5 - 10 năm qua. Điều này đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh các giải pháp kích cầu, như giảm thuế, hỗ trợ lãi suất, đồng thời triển khai mạnh mẽ các chương trình thúc đẩy tiêu dùng nhằm gia tăng sức mua trong nước.
Đánh giá về vấn đề này, TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng, tiêu dùng là động lực then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số vào năm 2026, khi tạo ra nhu cầu đủ lớn để kích thích sản xuất, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng hoạt động.
Tuy nhiên, theo ông Độ, dư địa này vẫn đối mặt không ít thách thức. Sức mua của người dân chưa thực sự bền vững, thu nhập còn hạn chế, trong khi chi phí vận hành của doanh nghiệp bán lẻ ngày càng gia tăng. Nếu thiếu nền tảng vững chắc, tăng trưởng có thể chỉ dừng ở quy mô mà không đi kèm hiệu quả.
Trong bối cảnh đó, ông nhấn mạnh các chính sách thuế hiện nay là công cụ phù hợp để hỗ trợ nền kinh tế, khi vừa giúp giảm giá thành sản phẩm, giảm chi phí cho doanh nghiệp và người dân, vừa góp phần kiểm soát lạm phát và kích thích tiêu dùng.
“Cần đặc biệt chú trọng giữ cho doanh nghiệp còn sức sản xuất, còn khả năng cạnh tranh và còn niềm tin để tiếp tục đầu tư, duy trì đơn hàng và việc làm. Khi chi phí đầu vào tăng cao, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, sẽ chịu áp lực lớn về dòng tiền. Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp lúc này không chỉ là hỗ trợ từng chủ thể, mà là bảo vệ năng lực sản xuất của nền kinh tế, bảo vệ việc làm và nền tảng an sinh xã hội trong dài hạn”, TS. Nguyễn Đức Độ nhấn mạnh.