(Congluan.vn) - Trong chuỗi những bài thơ viết về biển đảo và lên tiếng bảo vệ biển Đông bị Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép, nhà thơ Bùi Chí Vinh là một trong những "chiến sĩ" trên mặt trận thi ca. Anh đã đóng góp nhiều bài thơ hừng hực máu lửa đầy tính chiến đấu hào hùng trên các báo và tạp chí. Trong anh, vẫn còn đó tư thế vững vàng của một người lính, một cựu đặc công Rừng Sác năm nào.
Hôm nay, Trung Quốc ra khỏi vùng biển thuộc đặc quyền của Việt Nam. www.congluan.vn đã có buổi phỏng vấn đặc biệt với nhà thơ Bùi Chí Vinh.
Nhà thơ Bùi Chí Vinh
Trước tình hình biển đảo quê hương bị xâm phạm, khi Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan HD 981 lên vùng đặc quyền kinh tế thuộc phạm vi chủ quyền lãnh hải Việt Nam, nhà thơ nghĩ gì về vấn đề này?
Nhà thơ Bùi Chí Vinh: Thi sĩ vẫn là một con người. Con người đúng nghĩa “nhân chi sơ tính bản thiện” làm lành lánh dữ. Là con người nên thi sĩ phản ứng mạnh mẽ trước mọi dấu hiệu xâm lược của ngoại bang. Phản ứng dứt khoát không do dự không sợ hãi. Thậm chí sẵn sàng nhận nhiệm vụ hứng viên đạn bay về quê hương mình đúng với truyền thống “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Tuy nhiên ngoài chức năng “con người” thì thi sĩ còn mang thiên chức của một nhà tiên tri. Một thi sĩ “thứ thiệt” bao giờ cũng đánh hơi, cũng “ngửi” ra trước đồng loại các hiểm họa của tương lai. Chính vì thế trong khi nhiều người giả vờ ung dung trước mối tình hữu nghị vớ vẫn Việt-Trung đầy ảo tưởng thì tôi đã thấy đó là “cái bẫy” mà những kẻ cầu an giăng sẵn cho mình. Bằng những bài thơ đánh giặc phương Bắc ngay từ năm 1978 tôi đã gióng lên tiếng chuông báo động cho mọi người cảnh tỉnh. Ngoài ra, bằng tư thế của một thi sĩ trực tiếp cầm súng trong đơn vị E10 đặc công thủy Rừng Sác đóng quân trên đảo Long Sơn lúc đó tôi đã viết như sau:
Địa chỉ đặc công thuỷ
Nước là nơi chúng tôi hồi hộp
Ngực bỗng có vây và chân có đuôi xòe
Hai tay bỗng duỗi dài như bạch tuộc
Đón thủy triều sau cơn khát say mê
Nước là nơi chúng tôi ra đi
Những thằng con trai coi thường bão biển
Không biết mình giống hệt nhân ngư
Qua tiếng hát tỏ tình trừu tượng
Nước là nơi chúng tôi xuất trận
Cá sấu gặp nhau không hẹn ngày về
Chúng tôi chia tay, miệng đầy nước mặn
Mà ngọt cái nhìn chiến thắng hả hê
Nước là nơi lưng giắt lưỡi lê
Bén và ngọt như đau thương, hạnh phúc
Ai cũng để dành hào khí Yết Kiêu
Trong cách thả bọt lạnh lùng như cá vược
Nước là nơi chúng tôi tìm nhan sắc
Biển và em chen chúc đến nồng nàn
Như thể đó là chiếc gương soi được
Tiếng nói ban đầu của tình ái lặng câm
Ở với nước ai dám quên tình đất
Đất như mía lau để nước ngọt như đường
Chúng tôi lớn suốt một thời đánh giặc
Tình nguyện làm người gác cửa quê hương
(Đảo Long Sơn, 1980)
Là một cây bút viết rất nhiều về biển đảo Việt Nam, bài thơ nào của anh gây sự chú ý, khơi dậy lòng yêu nước đối với bạn đọc và bài thơ nào làm anh tâm đắc nhất?
Nhà thơ Bùi Chí Vinh: Bài thơ được nhiều trang web và blog cá nhân của những người có uy tín trên mạng bình bầu là bài thơ viết về biển Đông hay nhất. Bài thơ tôi tâm đắc nhất là bài Mùng 1 Tết nói về kẻ thù đất nước được làm đầu năm 2013. Tôi đã trả giá cho những bài thơ đánh giặc Tàu bằng máu. Máu thực sự được trích từ cánh tay nhỏ xuống những lá đơn tình nguyện xin được ra chiến trường vào cuối thập niên 1970. Bạn phải nhớ rằng không ai muốn một nhà thơ công tác tại Thành Đoàn mới 24 tuổi vừa đoạt giải thưởng Văn học TPHCM năm 1976-1977 thuở đó phải chết ở trận mạc. Vào bộ đội, tôi được cấp trên bố trí về Bộ Tư Lệnh Thành nằm ở Ban Tổng Kết Chiến Tranh đầy an toàn và sau đó làm tờ báo Quyết Thắng của Thành Đội. Lúc đó, nếu muốn làm báo chẳng thà tôi ở lại báo Tuổi Trẻ chứ làm đơn tình nguyện đi lính làm chi. Theo tôi, đã dám cầm súng là phải đánh giặc và đã đánh giặc là đánh ngay tại chiến trường chứ không “đánh võ mồm” trong phòng máy lạnh như “lính kiểng”. Thuở đó, tôi đã làm đủ mọi thứ, kể cả “vô kỷ luật” để được đi chiến đấu. Tôi trút kỷ niệm thời ở lính trong bài thơ Mùng 1 Tết nói về kẻ thù đất nước như sau:
Năm 1978 hồi xưa tôi đánh giặc ngoại xâm bằng súng
24 tuổi vác AK đi kiếm bọn Tàu
24 tuổi bỏ Thành Đoàn đâm đầu đi lính
Bọn Tàu vẫn còn nguyên còn tôi bị nhốt quân lao
Hồi đó tôi đa tình và hào khí ngất cao
Đọc thơ trước hàng ngàn hồng binh như tráng sĩ
3 thằng Sáu Quốc, Bảy Dũng, Hai Long cùng cắt máu ăn thề
3 thằng vất sau lưng chính trị
Năm 1979 xác Sáu Quốc ở mặt trận Kampuchea không tìm thấy
Năm 1980 Bảy Dũng vô kỷ luật ở tù
Năm 1981 tôi lãnh đủ hồ sơ loại ngũ
Giấc mộng anh hùng trở thành ác mộng đạp xích lô
Kể từ đó tôi sống bằng Thơ
Thơ tình, thơ du côn, thơ bại trận
Tôi làm thơ để trả nợ giang hồ
Trả nợ cho những thằng bị bắn
Tôi trả nợ cho những thằng bị bán
Tuổi thanh xuân bị bán giữa chợ đời
Bọn “quan chức con buôn” không một ngày cầm súng
Ngồi phòng máy lạnh hậu phương gác cẳng duyệt thơ tôi
Năm 1978 hồi xưa đốt cuốn “Sông Đông Êm Đềm” chơi
Thiêu cháy nhân vật lãng tử Grigori rồi ra trận
Cái chết xem nhẹ hơn lông hồng
Làm thơ thua xa siết cò súng
Năm nay 2013 tự nhiên mê tập bắn
Bia bắn giờ đây là bọn xâm lược cường hào
Bia bắn giờ đây là lũ tay sai bán nước
Thèm bắn một lần xuyên thấu tận ngàn sau!
(Mùng 1 Tết Qúy Tỵ)
Hai bài thơ; Huyết thư từ biển Đông và Trường Sa tuyên chiến thi ra đời trong hoàn cảnh nào, thời gian nào? Theo anh nó mang ý nghĩa gì trong tình hình biển đảo hôm nay?
Nhà thơ Bùi Chí Vinh: Hai bài thơ và ra đời trong vòng 5 năm trở lại đây. Hai bài thơ mang ý nghĩa “nắm đấm thép” của dân tộc bằng chữ nghĩa. Nó không vĩ đại và hùng tráng như Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi nhưng cũng góp phần làm nên một loại hịch Chính Khí Ca đủ sức đánh tan những luận điệu khiếp nhược đớn hèn của bọn cầu an cam phận làm tay sai ngoại bang.
Anh sẽ làm gì nếu như Trung Quốc không rút giàn khoan HD 981 ra khỏi vùng biển Việt Nam?
Nhà thơ Bùi Chí Vinh: Tôi chỉ có một cách để thể hiện lòng yêu nước. Đó là đánh giặc, đánh giặc và đánh giặc. Trên mặt trận tư tưởng thì đánh bằng chữ, bằng những bài viết hùng tráng sử thi, bằng những bài thơ đánh cho chúng “chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn”. Trên mặt trận quân sự thì bất cứ lúc nào tổ quốc gọi là tôi luôn sẵn sàng cầm súng. Nên nhớ tôi từng là một người lính dạn dày trận mạc, biết bắn súng trường súng ngắn lẫn đại bác, từng là cựu chiến binh đặc công thủy E 10 Rừng Sát cuối thập niên 1970.
Cám ơn anh về cuộc trò chuyện này.
- Phùng Hiệu thực hiện